Tu Viện Lộc Uyển
Kính chào quý vị,
Chúng ta đã về, chúng ta đã tới.
Kính xin quý vị
cùng thở sâu và nhẹ.
 

Nắm lấy các cơ hội thực tập

 

Kính thưa đại chúng

Hôm nay là ngày 5 tháng 3 năm 2006, chúng ta đang ở tại chùa Pháp Vân, xóm Thượng, Làng Mai, trong khóa tu mùa xuân. Hôm nay chủ nhật, đáng lý bài pháp thoại nói bằng tiếng Anh, nhưng vì lý do đặc biệt, các thầy, các sư chú, sư cô từ tu viện Bát Nhã ra tổ đình Từ Hiếu để dự lễ kỵ tổ Sư ông Thanh Quý, cho nên chúng ta có buổi pháp thoại viễn liên truyền về Việt nam bằng tiếng Việt. Nếu có thì giờ thì chúng ta sẽ nghe một bài pháp thoại tiếng Anh ngắn. Xin báo tin vui cho đại chúng biết là sáng nay khi tôi đi thăm Pháp Thân Tạng, hoa thủy tiên đã bắt đầu nở mấy trăm bông rồi, và chỉ trong vòng 10 ngày nữa là chúng ta có thể tổ chức hội Thủy tiên. Sẽ có hàng ngàn bông hoa nở ở Pháp Thân Tạng. Cây Mộc Lan màu hồng ở Phương Khê ra rất nhiều hoa. Mùa Xuân đang trở về ở Làng Mai, nhưng ở miền bắc và tây bắc nước Pháp thì tuyết vẫn còn rơi nhiều lắm. Phi trường phải đóng cửa, nhiều chuyến bay phải hủy bỏ, nhưng ở miền nam thì tình trạng có khác. Năm nay tại làng Mai có nhiều khóa tu đặc biệt. Tháng 4 sẽ có một khóa tu nói tiếng Pháp và tháng 6 sẽ có một khóa tu 21 ngày, rất nhiều thiền sinh đã và đang ghi tên, với chủ đề ' Hơi thở của Bụt'. Trong khóa tu này mình sẽ học kinh An Ban Thủ Ý, sẽ đi rất sâu vào kinh này và đem kinh này áp dụng vào đời sống hàng ngày cho cá nhân, cho gia đình và cho xã hội. Khóa tu này dành cho những người đã tu học lâu năm, sẽ có nhiều vị giáo thọ cư sĩ, nhiều vị Tiếp Hiện. Khóa tu này mình cũng sẽ đi sâu vào vấn đề tâm thức, và nó sẽ chuẩn bị cho khóa tu tháng tám về khoa học não bộ thần kinh. Vì vậy những người nào không thể ghi tên cho khóa tu tháng tám thì có thể tham dự khóa tu 21 ngày, cũng có thể học được rất nhiều. Mình có thể nói rằng khóa tu 7 ngày về khoa học thần kinh não bộ, tâm lý học phật giáo là sự đúc kết của khoá tu 21 ngày. Cho nên những vị nào tham dự được khoá tu 21 ngày là những người rất may mắn. Hy vọng chùa tổ cũng như Bát nhã có thể gởi được vài người về làng để tham dự khoá tu 21 ngày với chủ đề 'Hơi thở của Bụt'. Năm nay vào tháng 10 tăng thân làng Mai sẽ có 2 buổi pháp thoại tại hội trường Mutualité ở Paris, và những sư chú, sư cô nào chưa có dịp đi Paris thì sẽ được đi thăm Paris 3 ngày, và tham dự vào 2 buổi nói chuyện dành cho người Pháp. Nhân dịp này, một số sách sẽ được xuất bản bằng tiếng Pháp và chúng ta sẽ đi thiền hành ở Paris, từ công viên Luxembourg đến hội trường Mutualité. Chúng ta sẽ đi thiền hành giống như chúng ta đã đi thiền hành ở Sài gòn hay Hà nội, hay ở Frankfork hoặc ở New York. Bởi vì năm nay có rất nhiều khóa tu đặc biệt ở Làng Mai cho nên thầy đã từ chối những lời mời của rất nhiều quốc gia. Tổ chức hội nghị Tôn giáo và Hoà bình quốc tế được triệu tập ở Kyoto, Nhật bổn có mời thầy đến diễn thuyết và tham dự một buổi tọa đàm với thủ tướng Iraq và Nigeria để bàn về hoà bình thế giới nhưng mà mình đã có các khóa tu đang chuẩn bị nên thầy đã từ chối. Hội nghị Phật giáo thế giới ở Thượng Hải và Hàng Châu, thầy không đi được thì thầy gởi một số các vị giáo thọ đi thay thầy. Thầy Pháp Ấn sẽ lãnh đạo phái đoàn, trong đó có thầy Pháp Khí, sư cô Giác Nghiêm, sư cô Tùng Nghiêm. Các vị này sẽ đọc một bài tham luận của Làng Mai với đề tài 'Đạo Bụt đi vào cuộc đời'. Bài tham luận này đã được dịch ra tiếng Hoa để in vào văn tập. Ấn độ cũng mời thầy tới diễn thuyết cho 200,000 phật tử thuộc giai cấp cùng đinh, và thầy cũng đã từ chối. Bên Mỹ có đại hội thi ca, có 20,000 người trẻ tham dự, họ mời thầy đến đọc thơ, và thầy cũng đã từ chối luôn. Đó là những lời mời mà thầy đã từ chối và còn nhiều lời mời khác nữa, tại vì năm nay là năm không du hành thành thử ra mình phải ở nhà.

Trong giờ phút này đại chúng của 3 xóm làng Mai đang ngồi trong thiền đường Nước Tĩnh, xóm thượng và các thầy, sư chú, sư cô của tổ đình, của tu viện Bát Nhã và các vị tôn túc đến tham dự cũng ngồi yên như vậy. Chúng ta đã bắt đầu buổi pháp thoại này bằng 3 tiếng chuông. Khi mà tiếng chuông thỉnh lên thì tất cả chúng ta dù là ngồi ở bên Pháp hay ở Việt nam đều trở về với hơi thở để phát khởi năng lượng chánh niệm. Năng lượng chánh niệm có công năng mầu nhiệm, nó làm chúng ta trở thành một. Chúng ta có hàng trăm người ở bên này và hàng trăm người ở bên kia, nhưng mà mỗi khi tiếng chuông được thỉnh lên thì năng lượng chánh niệm làm chúng ta trở thành một người. Mấy trăm người mà trở thành một người. Vì vậy cho nên không có không gian ngăn cách.

Ở làng Mai có khi chúng ta đi thiền hành hàng trăm người, nhưng chúng ta đi như một người. Tôi có quán chiếu và thấy là chúng ta đi giống như một con sâu cuốn chiếu, có rất nhiều chân. Chúng ta đi bằng hai chân, nhưng có rất nhiều chân khác nữa chuyên chở tăng thân đi. Chúng ta đi như một giòng sông. Khi mình ngồi thiền cũng vậy. Chúng ta ngồi với rất nhiều người, nhưng mà khi chúng ta mời năng lượng chánh niệm lên, thì không có một cái ngã riêng biệt nữa, và chúng ta có một tăng thân, một giòng sông và mình thấy được tính vô ngã của từng người. Sáng nay đại chúng lên tụng kinh với rất nhiều thầy,sư cô. Khi tiếng chuông được thỉnh lên thì tất cả trở thành một. Và các vị phật tử nghe tụng kinh cũng chắp tay lại, không còn có sự phân biệt giữa người tụng kinh và người nghe kinh. Đây là phương pháp thực tập rất là hay, năng lượng chánh niệm làm cho cái nhiều trở thành cái một. Chỉ cần chúng ta trở về với hơi thở để phát khởi năng lượng chánh niệm là có sự cảm thông giữa các thành phần trong tăng thân, và tự nhiên tăng thân trở thành một giòng sông. Phương pháp thực tập này biểu lộ tuệ giác vô ngã, chỉ khi nào mình thực tập để thấy tăng thân là mình và mình là tăng thân, không có sự chia cách nào hết giữa mình và người khác thì lúc đó mình mới có sự tiến bộ trong quá trình tu tập vô ngã. Tại vì vô ngã là nền tảng của giáo lý đạo Bụt. Có nhiều người giảng giải về vô ngã rất là hay, nhưng cái ngã của họ rất lớn, thì sự giảng giải đó không dính líu gì tới sự thực tập trong đời sống hàng ngày của họ. Chúng ta phải luôn luôn ghi nhớ rằng trong một tăng thân tu tập, chúng ta phải hành sử như thế nào để chúng ta có thể đi được như một giòng sông. Những khó khăn, hạnh phúc của những người trong tăng thân phải là những khó khăn, hạnh phúc của chính mình. Và mình phải có bổn phận giúp chuyển hóa những khó khăn đó. Mình có được hạnh phúc nào thì mình phải nuôi dưỡng hạnh phúc đó. Chỉ khi nào mình đi được như một giòng sông, mình sống theo tinh thần của tăng thân thì lúc đó tình anh chị em mới được chế tác. Sống trong một đại chúng mà không có tình anh chị em thì chúng ta không được nuôi dưỡng, chúng ta không có hạnh phúc. Vì vậy sự thực tập hàng ngày của chúng ta phải chế tác được tình anh chị em. Khi chúng ta có tình huynh đệ thì mọi người đều được nuôi dưỡng. Không có tình huynh đệ thì đừng có nói tới đại từ, đại bi. Chính đại từ, đại bi được xuất phát từ tình huynh đệ. Nếu anh chị em trong một nhà mà không sống được như một tăng thân, không chấp nhận được nhau thì cuộc đời tu của mình thất bại ngay từ đầu. Và mình có thể đánh giá sự thành công của một tăng thân tu học ở chỗ là tăng thân đó có tình huynh đệ hay không? Nếu thấy rằng chúng đó không có tình huynh đệ thì mình có thể nói là họ đã thất bại. Còn nếu như trong chúng có tình huynh đệ, mọi người được nuôi dưỡng bởi tình huynh đệ đó, thì dù có mấy trăm người đi nữa thì vẫn sống hòa hợp được với nhau.

Tại làng Mai chúng ta tổ chức ngày quán niệm mỗi tuần và các thiền sinh trong vùng đến tham dự. Trong ngày quán niệm, các sư cô, sư chú trẻ được quan sát các thầy, sư cô lớn tổ chức ngày quán niệm. Họ học từ cách các vị giáo thọ nói pháp thoại, hướng dẫn, cho tham vấn, và họ học được rất nhiều. Ngày quán niệm là một cơ hội cho các tăng sinh trong chúng được học hỏi. Ngoài ra chúng ta có các khóa tu tổ chức ngay tại làng Mai, khóa tu 5 ngày, 7 ngày, 21 ngày và trong những khóa tu này, các vị giáo thọ đứng ra hướng dẫn với sự phụ tá của các sư em trẻ. Sự có mặt của các vị xuất gia trẻ rất là quan trọng, sự có mặt đó không phải là để làm việc, mà để biểu lộ sự thực tập của họ. Những người xuất gia trẻ, có thể chỉ mới tu 6 tháng hoặc một năm nhưng mà có thể đi đứng rất thong dong, chánh niệm và vững chãi, có nụ cười tươi mát, ánh mắt từ bi, cái nhìn thân thiện. Khi những người thiền sinh thấy người xuất gia trẻ với sự thực tập của họ thì người thiền sinh thấy giáo pháp được biểu lộ qua cách sống chứ không chỉ bằng lời nói. Sự đóng góp và hiện diện của những người xuất gia trẻ rất là lợi lạc cho thiền sinh. Những người xuất gia trẻ học được rất nhiều từ các sư anh sư chị lớn qua cách họ giải quyết vấn đề, hướng dẩn thiền sinh tu học, để sau này họ cũng có thể làm được như các sư anh và sư chị lớn. Ngoài những khóa tu được tổ chức tại chỗ, ngay trong tu viện, làng Mai còn có những khóa tu tổ chức ở các nước như Á Châu, Âu châu và các tiểu bang Hoa kỳ. Với những khóa tu này các vị giáo thọ đem theo các thầy, sư cô trẻ để phụ tá, và họ cũng học được rất nhiều từ các sư anh sư chị lớn cách hướng dẫn, cách tháo gỡ những khó khăn cho thiền sinh. Giống như sinh viên y khoa, mỗi tuần họ được các giáo sư đưa tới nhà thương để quan sát các giáo sư bác sĩ chẩn đoán và trị liệu như thế nào. Chúng ta cũng vậy, các thầy, sư cô trẻ được đi theo các vị giáo thọ để học cách tổ chức và giúp đỡ thiền sinh. Tại tu viện Từ Hiếu và Bát nhã lâu nay đã có ngày quán niệm rồi, các sư chú, sư cô đã có cơ hội học hỏi và quán sát từ các vị giáo thọ. Bây giờ đã bước sang năm thứ hai, Từ Hiếu và Bát Nhã phải tổ chức các khóa tu dài ngày hơn là ngày quán niệm. Những khóa tu cuối tuần 2 ngày, hoặc 4,5 ngày để các vị cư sĩ đến tu viện tu học. Trong khi các vị giáo thọ hướng dẫn, dạy dỗ thiền sinh thì các vị xuất gia trẻ có cơ hội học hỏi và thực tập. Năm nay tổ đình Từ Hiếu và Tu viện Bát Nhã sẽ tổ chức những khóa tu như vậy ngay tại tổ đình và tu viện. Bây giờ thỉnh một tiếng chuông trước khi thầy nói tiếp. Xin mời đại chúng ngồi ngay ngắn, theo dõi hơi thở để phát khởi chánh niệm, và chúng ta sẽ đi như một giòng sông để không còn ai có một cái ta riêng biệt.

Các vị xuất gia trẻ còn có một cơ hội khác nữa là được đi theo các vị giáo thọ tổ chức khóa tu ở các tỉnh, tiểu bang, các nước khác. Sẽ có các khóa tu tổ chức ở Quảng Trị, Nha Trang, làng An Bằng, hoặc ở Hà Nội, Quy nhơn.

Chỉ còn mấy hôm nữa thì chúng ta sẽ tổ chức lễ giỗ sư ông Thanh Quý. Năm ngoái thầy và phái đoàn quốc tế tăng thân Làng Mai gồm 200 vị đã rất may mắn tham dự vào lễ giỗ Sư ông trước Thanh sau Quý hiệu là Chân Thật. Tôi còn nhớ là hôm đó có rất nhiều chư vị tôn túc từ các đạo tràng, tổ đình khác tới tham dự và chúng ta đã ngồi với nhau như con cháu của môn phái, của tổ đình. Chúng ta đã được nghe thượng tọa Chí Mậu, thượng tọa Chí Thắng, Thượng tọa Chí Viên, thượng tọa Chí Mãn, vân vân.... và các sư bà Lưu Phương, Lưu Phong chia sẻ các kỷ niệm và ân tình mà quý vị đã tiếp nhận từ Sư ông Thanh Quý. Khi đại chúng được nghe những phát biểu và chia sẻ của các vị tôn túc, thì quý vị phật tử trong môn phái có cảm tưởng thấy được một cách rõ ràng nhân cách và đạo phong của Sư ông Thanh Quý. Họ thấy Sư ông đang có mặt một cách hiện thực giữa đại chúng trong ngày kỵ tổ. Tôi đề nghị thượng tọa trụ trì và đại chúng tổ đình Từ Hiếu, năm nay trong lễ kỵ tổ, mình cũng nên mời một số chư vị tôn túc kể lại những kỷ niệm của họ với sư tổ. Nếu có thì giờ thì mình mời sư thúc Chí Mãn kể chuyện Tây du, qua làng Mai tham dự Đại giới đàn Cổ Pháp cho vui. Mình tạo ra không khí gia đình thắm thiết và những người trẻ được nghe kể chuyện về sư tổ thì họ mới thấy được và tiếp xúc được với sư tổ. Nếu trong lễ kỵ tổ mà mình chỉ tụng kinh thôi thì họ không biết sư tổ là ai, chỉ nghe đến tên mà thôi. Tại làng Mai, trong lễ kỵ tổ chúng ta sẽ đọc vài đoạn trong bài thơ 'Con nghé nhỏ đuổi chạy mặt trời'. Trong bài thơ này có hình ảnh của sư tổ rất rõ ràng.

Tôi nhớ ngày xưa, mỗi khi tôi về lại chùa Từ Hiếu, Sư ông Thanh Quý rất là vui. Nhưng Sư ông không biểu lộ niềm vui đó liền. Thầy phải đi bôn ba rất nhiều, và mỗi khi về chỉ ở được 1 hoặc 2 tuần mà thôi. Sư ông Thanh Quý chưa dám mừng liền, Sư ông nhìn cho kỹ để xem có phải là thầy không. Nhìn một hồi cho chắc đây là đệ tử của mình thì lúc đó Sư ông mới bắt đầu cười, và hạnh phúc. Thầy trò không được ở với nhau lâu dài. Nhớ hồi thầy mới xuất gia, thầy trò được ở chung 24 giờ mỗi ngày, năm này sang năm khác. Khi thầy trở thành giáo thọ thì phải đi dạy, nên thầy trò không có cơ hội ở chung với nhau nữa. Cho nên mỗi khi thầy về lại tổ đình là những dịp quý báu, thầy trò ngồi với nhau. Hình ảnh mà thầy giữ rất rõ ràng trong suốt 39 năm xa cách quê hương là hình ảnh Sư ông ngồi ở cái bàn với cái hộc tộ. Tôi thường nghĩ rằng nếu được về chùa tổ thì tôi sẽ lạy Sư ông chỗ đó chứ không phải lạy ở tháp hay lạy ở bàn thờ. Tại vì ở tháp hay bàn thờ thì không thấy Sư ông như vậy. Tôi biết rằng về đến chùa tổ thì tôi sẽ lạy Sư ông ở đó. Mỗi khi đi ngang qua bàn quả đường thì vẫn thấy Sư ông ngồi đó, và tôi cúi đầu đi qua. Tình thầy trò rất là thắm thiết. Tôi có thể tâm sự với quý vị hôm nay là khi mình, một người đệ tử có truyền thông tốt với thầy, được thầy tin cậy và thương yêu, thì hạnh phúc của người đệ tử đó rất là lớn, và hạnh phúc của thầy cũng rất là lớn. Tôi đã được may mắn là một người như vậy. Tôi được Sư ông tin và hiểu. Khi tôi được tin và hiểu bởi thầy tôi thì tôi có một nguồn năng lượng rất lớn, có thể đối phó với không biết bao nhiêu là khó khăn trong cuộc đời mà mình không chùng bước. Do đó tình thầy trò rất là quan trọng. Sau tình thầy trò là tình huynh đệ. Nếu mình tu mà không chế tác được tình thầy trò và tình huynh đệ thì mình thất bại ngay trong cuộc đời tu của mình dù mình có bằng cấp gì đi nữa, có vị trí cao thì mình vẫn thất bại trong cuộc đời tu.

Ngày giỗ tổ năm nay có 100 vị xuất gia ở Bát Nhã ra để đảnh lễ sư tổ, chư vị tôn túc. 100 vị đó cũng là con cháu của tổ đình, dù họ là đệ tử của thầy Nhất Hạnh hay của thầy Đức Nghi, khi họ về chùa tổ thì họ là con cháu của tổ đình. Họ sẽ được các thầy, sư chú ở tổ đình dang rộng hai cánh tay chào đón như những người bà con thân thiết. Khi các thầy, sư chú ở tổ đình mà vào Bát Nhã thì họ cũng sẽ được đón tiếp với hai cánh tay dang rộng. Bát Nhã và Từ Hiếu là một, và chúng ta đều là anh em trong một nhà hết. Nếu quý vị qua làng Mai, hay tu viện Lộc Uyển, Rừng Phong thì quý vị cũng sẽ được chào đón như những người anh em, không có sự phân biệt gì hết. Đệ tử của thầy Đức Nghi, hay đệ tử của thầy Chí Mậu, thầy Nhất Hạnh hoặc đệ tử của bất cứ một ai khi đi vào tu viện mà tu tập đàng hoàng thì đều là anh em của nhau hết. Không có sự phân biệt đệ tử của người này hay đệ tử của người kia thì lúc đó mới thật sự có tình huynh đệ. Khi tổ đình Từ Hiếu trở thành một tu viện tu học theo thanh quy và nội quy của phật học viện thì chỉ những người chấp nhận đi với nhau như một giòng sông, theo thời khóa, tuân thủ thanh quy của tổ đình thì mới được coi như chúng chủ trì. Những người nào dù là đệ tử của thầy Nhất Hạnh hay của thầy Chí Mậu nếu không tuân thủ những quy chế của tu viện, của phật học viện thì những người đó không được ở lại tu viện. Nếu họ ở trong tu viện mà không tuân thủ nội quy thì họ sẽ làm hại tổ đình, dù mình có bao nhiêu tuổi hạ đi nữa cũng không được ở lại. Ở Bát nhã cũng vậy, nếu không tuân thủ nội quy của tu viện thì thầy Đức Nghi sẽ mời đi ở những chùa khác. Hoàn toàn không có sự phân biệt đệ tử của thầy này hay đệ tử của thầy kia. Tôi được báo cáo là trong phái đoàn Bát Nhã đi ra tổ đình có 2 vị khách tăng, rất mến chuộng pháp môn tu học của Bát Nhã, thực tập rất giỏi, đóng góp rất nhiều để xây dựng tu viện, hai vị đó được thỉnh cầu ở trong chúng chủ trì. Trong chuyến đi ra Huế kỳ này hai vị đó được mời đi theo. Điều này chứng tỏ là mình không kỳ thị, phân biệt người đó là đệ tử của ai. Mình chỉ nhìn nhận người đó trên sự tu học, có tâm tu học, có sự thực tập vững chãi thì người đó sẽ trở nên người của chúng chủ trì, sẽ là những người thường trú. Còn những người nào dù tuổi hạ lớn bao nhiêu đi nữa, có bằng cấp gì đi nữa nếu không tuân thủ, không tu tập đàng hoàng, dù là đệ tử của thầy Nhất Hạnh đi nữa cũng sẽ được mời đi chỗ khác. Chúng ta là một đại gia đình. Tại làng Mai có 4 chùa, chùa Pháp Vân, chùa Sơn Hạ, chùa Từ Nghiêm, chùa Cam lộ đều là các chùa anh em của nhau. Chùa nào hơi thiếu hụt tài chánh hoặc cần giúp đỡ về kỷ thuật âm thanh, tổ chức, xây cất đều nhận được sự nâng đỡ từ các chùa kia. Họ hành sử như bốn anh em ruột. Bên Mỹ chúng ta có tu viện Rừng Phong với hai xóm là Thạch Lang và Tùng Hạc và trung tâm Thanh Sơn dành cho người cư sĩ. Lộc Uyển có hai xóm là Vững Chãi và Trong Sáng. Hai tu viện đó cũng cư xử với nhau như anh em ruột thịt. Trên phương diện giáo dục, tài chánh đều có sự thông thương và nâng đỡ lẫn nhau. Khi nào có một vị xuất gia từ Lộc Uyển trở về Làng Mai thì vị đó trở về như một đứa con. Hay một vị từ làng Mai qua tu viện Rừng Phong thì vị đó cũng được đón tiếp như một đứa con. Những vị từ chúng chủ trì của Từ Hiếu mỗi khi vào Bát Nhã là người của Bát Nhã. Những người thường trú của Bát Nhã mỗi khi vào Từ Hiếu đều là con cháu của Từ Hiếu. Bất cứ đệ tử của ai, của thầy Nhất Hạnh, của thầy Đức Nghi, của thầy Chí Mậu hay của bất cứ vị tôn túc nào khác, nếu đi theo thanh quy, tu học đàng hoàng đều được chấp nhận vào chúng chủ trì, hoặc chúng thường trú. Chúng ta phải chấp hành điều này cho nghiêm minh.

Làng Mai có gởi về tổ đình một văn kiện chữ Hán, chắc tổ đình chưa nhận được. Văn kiện đó được chụp hình tại tổ đình, ghi chép tất cả các bài kệ truyền đăng phó pháp cho các thế hệ đệ tử. Bắt đầu với sư tổ Nhất Định, ngài phó pháp truyền đăng cho 15 đệ tử. Sau 15 bài kệ này là các bài kệ của tổ Hải Thiệu. Ngài truyền đăng cho 30 vị đại sư. Sau tổ Hải Thiệu là tổ Huệ Minh, ngài cũng truyền đăng cho một số đệ tử. Tất cả các bài kệ phó pháp truyền đăng đều được ghi chép lại ở trong văn bản chữ Hán đó. Tôi đã yêu cầu các thầy đánh máy ra chữ Hán và phiên âm ra từ Hán Việt để không bị thất lạc. Hiện bây giờ trên trang nhà của làng Mai có nguyên văn bản chữ Hán, và phiên âm ra từ Hán Việt.

Ngày xưa tại tổ đình các tổ xử dụng danh từ phó pháp. Và vị đại sư được truyền đăng gọi là đắc pháp. Vị đại sư đầu tiên được phó pháp truyền đăng là đại sư Hải Chiếu, pháp tự là Đoan Trang. Trong bài kệ truyền đăng này, tổ Nhất Định dùng hình ảnh cây đèn. Vì vậy phó pháp cũng là truyền đăng. Bài kệ đó như sau:

Đoan trang học địa tịnh đồng băng
Tham cứu thiền cơ liễu thượng thặng
Kiên cố biến tâm vô dị biệt
Nhất đăng truyền chiếu bách thiên đăng

Câu cuối cùng 'Nhất đăng truyền chiếu bách thiên đăng' có nghĩa là một cây đèn truyền lại và thắp sáng hàng trăm, hàng ngàn cây đèn khác. Chúng ta đọc câu kệ cuối của bài kệ truyền đăng thì chúng ta hiểu được ý của tổ là muốn truyền đăng cho được nhiều người.

Chư tổ đã chấp hành rất nghiêm chỉnh ý muốn của tổ Nhất Định. Tổ Hải Thiệu đã tiếp tục công việc truyền đăng, trao truyền cây đèn cho 30 vị đại sư. Vị đại sư đầu là đại sư Thanh Phúc, pháp tự Chỉnh Lương. Chúng ta may mắn còn giữ lại được các bài kệ này. Sau tổ Hải Thiệu là tổ Huệ Minh, ngài cũng truyền đăng cho một số đại sư khác. Trong số các vị đại sư được tổ truyền đăng có sư ông Thanh Quý kính yêu của chúng ta. Đây là bài kệ truyền đăng của tổ Thanh Quý, pháp tự Cứu Cánh, hiệu Chân Thật, trụ trì chùa Từ Hiếu và chùa Diệu Nghiêm.

Chân thật duy tùng thể tính không
Thâm cùng vọng thức bản lai không
Thỉ tri thị vật nguyên phi vật
Diệu dụng vô khuy chí tự công

Tổ Huệ Minh với tư cách sư anh đã truyền đăng cho sư em của mình là tổ Thanh Quý.
Chúng ta sẽ làm lễ giỗ tổ vào ngày 7 tháng 3 sắp tới. Không biết hôm nay thầy Thiện Phước ở chùa Châu Lâm có tới Từ Hiếu hay không? Đại đức Thiện Phước đã được huấn luyện tại làng Mai và đã được truyền đăng. Các thầy giáo thọ Từ Hiếu phải mời thầy Thiện Phước tới giúp một tay trong việc hướng dẫn và dạy dỗ các sư em.

Kính thưa đại chúng, năm ngoái cũng vào thời điểm này, sư bà Diệu Trí trụ trì chùa Diệu Nghiêm đã nhiều lần gợi ý và quyết định giao chùa Diệu Nghiêm lại cho tôi để thành lập ni viện theo thanh quy của một phật học viện. Chúng ta biết ngày xưa sư tổ Thanh Quý trong khi làm Tăng Cang và trụ trì chùa Từ Hiếu, cũng đồng thời làm trụ trì chùa Diệu Nghiêm. Sau sư tổ nhờ sư bà phụ trách chùa Diệu Nghiêm. Chắc chắn sư tổ sẽ rất hoan hỷ khi thấy chùa Diệu Nghiêm trở thành ni viện tu học theo thanh quy của một phật học viện, như mô thức của tổ đình Từ Hiếu hiện nay. Tôi đã viết một điện thơ để đọc trong ngày giỗ tổ ở chùa Từ Hiếu. Trong điện thơ đó tôi công cử Ni Sư Minh Tánh làm giám tự chùa Diệu Nghiêm, với sự phụ tá của Ni sư Diệu Thiện và sư cô Minh Huyền với chức vụ tri sự và quản lý cơ sở. Tôi xin đề cử Ni sư Như Minh, Như Huy, và Diệu Đạt vào ban giáo thọ của ni viện Diệu Nghiêm. Các vị Ni sư trên đều là con cháu của tổ đình và đã được phó pháp truyền đăng làm giáo thọ, cũng như ni sư Minh Tánh và Minh Huyền là đệ tử của sư bà Diệu Trí. Sẽ là một niềm vui lớn khi chùa Diệu Nghiêm trở thành một ni viện, với thanh quy của mô thức Từ Hiếu. Tôi đang có trách nhiệm hướng dẫn chương trình tu học cho tổ đình, thì tôi cũng có trách nhiệm hướng dẫn chương trình tu học cho ni viện trong những năm đầu. Tôi sẽ gởi thêm các vị nữ giáo thọ Làng Mai để yểm trợ cho ban giáo thọ của ni viện. Chắn chắn tâm niệm và niềm vui của sư bà sẽ rất lớn khi sư bà thấy Diệu Nghiêm trở thành một ni viện tu học tinh chuyên, miên mật theo quy chế của tu viện và phật học viện. Nếu các ni sư trong ban giáo thọ Diệu Nghiêm giỏi thì vào ngày rằm tháng 11 năm 2006 chúng ta có thể khai giảng ni viện Từ Nghiêm rồi. Chúng ta có vào khoảng 8 tháng để chuẩn bị. Điều này sẽ gây niềm vui rất lớn, làm cho môn phái và tổ đình được vẻ vang. Điện thơ này sẽ được Thượng tọa Chí Mậu đọc lên trong ngày giỗ tổ sắp đến.

Về việc truyền đăng tôi nghĩ rằng, vì chiến tranh nên sư tổ Thanh Quý không truyền đăng được cho nhiều thầy. Nhưng tôi đã được truyền đăng và tôi đã truyền đăng lại cho nhiều thầy và sư cô. Và tôi cũng đã truyền đăng lại cho sư em của tôi là Thượng Tọa Chí Mậu. Sau này thượng tọa có thể truyền đăng lại được cho nhiều đệ tử của thượng tọa. Có như vậy thì chúng ta mới tiếp nối được tổ đăng. Có lẽ tôi sẽ viết một lá thơ cho các vị tôn túc, các hòa thượng trong môn phái, nói rằng:'Để cho ngọn đèn này được truyền lại cho nhiều đời, nếu chư vị thấy thầy nào hoặc sư cô nào tu hành vững chãi, có thể được truyền đăng thì tôi sẽ sẳn sàng truyền đăng cho các vị đó'. Tôi không đòi hỏi nhiều, các vị muốn được truyền đăng thì ít nhất phải nắm cho vững phương pháp thiền đi trong chánh niệm, vững chãi, thảnh thơi. Nắm cho được hơi thở chánh niệm trong khi đi, đứng, nằm ngồi, làm việc. Phải biết thực tập những pháp môn căn bản như là xây dựng tăng thân, làm mới. Những người nắm được những pháp môn tu học như vậy thì xứng đáng được truyền đăng rồi, chứ không cần phải tốt nghiệp phật học viện gì hết. Ở làng Mai có nhiều thầy, sư cô trẻ, tuy rằng chưa có thể ra giảng giải hùng hồn như các vị giảng sư lâu năm, nhưng được truyền đăng là vì họ đã được học hỏi và tu tập các pháp môn căn bản trong 7, 8 năm. Ví dụ như thiền đi, thiền ngồi, an ban thủ ý, làm mới, soi sáng. Họ đã học và tu rất nhiều thành ra có đắc pháp, chứ không phải là truyền đăng hình thức. Những vị giảng sư giảng thao thao bất tuyệt nhưng không có pháp môn tu học thì những vị đó không được truyền đăng ở làng Mai. Một vị giáo thọ không chỉ giảng dạy bằng lời nói của mình mà bằng sự sống hằng ngày của mình nữa. Nhu cầu giảng dạy ở Tây phương rất lớn mà số lượng các vị giáo thọ xuất gia còn ít, cho nên mình phải truyền đăng cho các vị tiếp hiện cư sĩ. Những vị giáo thọ cư sĩ này đang giảng dạy khắp nơi trên thế giới. Những tăng thân tu tập theo truyền thống làng Mai mọc lên khắp nơi, ở nhiều tiểu bang, nhiều quốc gia. Có trên dưới 1000 tăng thân như vậy khắp nơi trên thế giới. 70, 90 vị giáo thọ xuất gia không thấm thía vào đâu cả, cho nên tôi phải truyền đăng cho nhiều vị cư sĩ và những vị giáo thọ cư sĩ này tu tập rất giỏi.

Ngày hôm nay là một ngày rất vui ở tổ đình, không khí của tình huynh đệ rất đậm đà. Bài pháp thoại hôm nay là để chia sẽ niềm vui đó. Chúng ta đang đi như một giòng sông, và chúng ta hãy nắm tay nhau, buông bỏ tư kiến, những tiện nghi cá nhân để chúng ta có thể tạo ra nhiều niềm vui cho đại chúng, cho phật tử, và báo ân được cho chư tổ. Tại vì không có niềm vui nào lớn hơn khi chư tổ thấy con cháu của mình ngồi với nhau, nắm tay nhau, chấp nhận nhau, thương yêu nhau, tu tập với nhau như một gia đình, ngàn người như một, đi với nhau như một giòng sông. Tôi xin chấm dứt bài pháp thoại hôm nay, và sẽ không nói bài pháp thoại tiếng Anh, tôi thấm mệt rồi. Xin cảm ơn đại chúng.