Tu Viện Lộc Uyển
Kính chào quý vị,
Chúng ta đã về, chúng ta đã tới.
Kính xin quý vị
cùng thở sâu và nhẹ.

Lá Thư Làng Mai số 29

Lá Thư Làng Mai
Thông Điệp Của Tình Huynh Đệ
Đông Tây Đoàn Tụ
Bàn Chân Chạm Vào Đất Tổ
Con Đã Về Thật Rồi
Tôn Giáo và Sự Lành Mạnh Hóa Xã Hội
Những Điểm Đề Nghị
Điểm Báo
Theo Gót Trạc Truyền
Bên Ni Cũng Vui Lắm
Phương Trời Cao Rộng
Nhớ Ơn Cha
Chọn Một Con Đường
Papa Bear - Gấu Cha
Chiếc Áo Nhật Bình
Sống Trong Năm Gà
Má Nằm như Ngủ Yên và Mộng Đẹp
Hòn Sỏi Bước Chân
Hơi Thở Mùa Xuân
Tỳ Ni - Những Bài Thiền Tập Căn Bản
Từ Hiếu Vào Đông
Khi Bình Minh Trở Về
Em Muốn Làm Cây Thông
Lộc Uyển - Cõi Tịnh Độ Miền Tây Mỹ
Đôi Mắt Ban Đầu
Kinh Thích Ý Chân Chính
Nguyện Tiếp Nối Hoài Bão
Lữa Hồng Phương Bối
Hương Trà Tỏa Ngát
Hạnh Phúc Trở Về
Bố Mẹ Đừng Lo!
Nhìn Lại
Bước Đầu Chuyển Hóa
Tiếp Xúc - Tiếp Trợ
Lịch Hành Hóa Năm 2006
Lá Thư Làng Mai số 29 ra ngày 12 tháng 01 năm 2006
 

Hà Vĩnh Thọ sư chú Pháp Ngạn chuyển dịch

"Con đường lúa thơm còn ghi dấu tuổi thơ bàn tay mẹ" (1)

Vào tháng giêng năm 2005, sau gần bốn mươi năm xa cách, Thầy cùng với khoảng một trăm tăng ni và một trăm thiền sinh cư sĩ tháp tùng, đã đặt chân lên lại đất mẹ Việt Nam. Nhưng nói bốn mươi năm xa cách, điều đó có đúng chăng? Trên phương diện tương đối thì đúng, nhưng nếu ta nhìn sâu hơn, thì thật sự ta thấy rằng Thầy đã luôn luôn có mặt tại Việt Nam. Có mặt qua những bài pháp thoại, qua hình ảnh của Thầy, qua những người đệ tử và những hoạt động nhân đạo của Thầy nhằm giúp đỡ những người ít may mắn nhất. Ngoài ra, nhờ Thầy mà những yếu tố cao quý của văn hóa Việt Nam đã vượt ra khỏi biên giới và tỏa sáng khắp thế giới. Tất cả những người đã đến tu tập với Thầy trong rất nhiều khóa tu được tổ chức khắp năm châu, đã tiếp xúc được với Việt Nam và nền văn hóa của nước này một cách vô cùng sâu sắc, hơn những du khách đã về Việt Nam. Riêng bản thân tôi mang trong mình dòng máu Việt Nam của cha, tôi đã về thăm Việt Nam trung bình hai lần mỗi năm, nhưng chính tại Làng Mai mà tôi đã thật sự gặp lại gốc gác của mình. Đầu thập niên chín mươi, vào một buổi tối sau buổi pháp thoại ở một giảng đường lớn tại trung tâm thành phố Zurich, tôi đã có dịp trình bày cùng Thầy là tôi vừa từ Việt Nam về, và kể cho Thầy một số tin tức về chùa Tổ Từ Hiếu. Thầy đã lắng nghe tôi một lúc, rồi nhìn tôi mỉm cười và chỉ xuống đất chỗ chúng tôi đang đứng mà trả lời: "Từ Hiếu là đây chứ đâu". Dù trong tâm tưởng Thầy chưa bao giờ rời Việt Nam, nhưng trên thực tế năm nay Thầy đã trở về, và sự trở về này (hay "không trở về" này), vẫn là một giây phút lịch sử. Thầy, người đã sống lưu vong một phần lớn cuộc đời mình, từng giảng dạy bằng những lời giản dị: "đã về, đã tới". Thầy không cần "trở về", bởi vì Thầy "đã về" trong mỗi phút giây và bất cứ ở đâu. Nếu Thầy đã trở lại Việt Nam, điều này trước tiên chẳng phải cho chính mình, mà là để giúp những người đau khổ, như Thầy đã và đang làm khắp nơi trên thế giới. Tuy nhiên, mỗi cái cây và mỗi con người đều có gốc rễ của nó, và mảnh đất nơi nó đã cắm rễ và lớn lên, đã mang một hương vị mà nơi khác không thể sánh được. Người nào được may mắn nghe Thầy giảng bằng tiếng mẹ đẻ tại quê hương của Thầy chắc chắn đã cảm nhận được như tôi, là họ được nghe "tiếng gầm của sư tử đầu đàn", giống như những lời đã dùng trong "Kinh Sư Tử Hống" (2) để diễn tả uy lực của Bụt khi giảng dạy. Những người không biết tình trạng phức tạp ở Việt Nam chắc chắn không thể tưởng tượng được một chuyến đi như thế sẽ rắc rối như thế nào. Một mặt người ta nhìn thấy sự tiếp đón nhiệt thành của quần chúng, một cuộc đón rước xứng đáng cho một vị quốc vương, những đám đông đang uống từng lời nói đầy tuệ giác và từ bi, như đất đai khô cằn đón nhận trận mưa pháp lâu ngày mong đợi. Mặt khác, mà ít ai nhìn thấy, là những áp lực mạnh mẽ, những ngờ vực, sợ hãi và những vết thương chưa lành của một dân tộc có một lịch sử đầy biến động. Người ta thường nói rằng "Bụt chùa nhà không thiêng" nhưng Thầy đã chứng tỏ ngược lại. Với một lòng độ lượng vô tả, Thầy đã lắng nghe niềm đau của nhiều người và đã hiến tặng cho họ cả một kho tàng tuệ giác và từ bi mà Thầy đã đạt được trong suốt cuộc đời tu tập. Nhìn ngắm Thầy ở Việt Nam, tôi đã nghĩ đến một bài kinh mà Thầy đã làm năm 1965:

  "Đệ tử tâm thành phát nguyện,  
  nghĩ điều thương yêu đùm bọc  
  làm điều cảm thông đoàn kết  
  nói điều xây dựng thuận hòa" (3)  

Những lời phát nguyện của Thầy thật kiên trì, trung dũng làm sao. Pháp hiệu của Thầy có nghĩa là chỉ có một hành động duy nhất. Thật thế, cũng như đức bổn sư của Thầy, Bụt Thích Ca Mâu Ni, Thầy đã theo đuổi một mục đích trong suốt cuộc đời của Thầy: nhận diện sự đau khổ, hiểu thấu nguyên nhân của sự đau khổ, đưa đến chấm dứt sự đau khổ và hướng dẫn mọi loài trên con đường vượt thoát ra khỏi sự đau khổ. Chuyến đi Việt Nam của Thầy, tóm lại cũng không ngoài những điều nói trên.

1 Trích: "Địa xúc", bài thơ trong tập"Thơ từng ôm và mặt trời từng hạt" - Thích Nhất Hạnh.
2 Kinh "Sư tử hống" trong Trung Bộ Kinh.
3 Kinh "Cầu Nguyện Hòa Bình" trong tập"Thơ từng ôm và mặt trời từng hạt" - Thích Nhất Hạnh