Điểm Báo |
sư chú Pháp Hoạt
Là một trong những sư anh lớn của gia đình xuất gia cây Hướng Dương và tuy thọ giới Sa Di vừa mới được năm tháng nhưng sư chú Pháp Hoạt có khả năng lắng nghe, giúp được nhiều vị thiền sinh Tây phương. Sư chú hiện đảm trách mục tin tức sinh hoạt trong trang nhà Làng Mai. Sư chú thường quan tâm đếntình hình thời sự tại Việt Nam nên rất hoan hỷ khi được mời phụ trách bài Điểm Báo này.
Chuyến đi hoằng pháp của Thầy Thích Nhất Hạnh vàtăng thân Làng Mai đến nay vẫn còn là đề tài để bình luận và tranh cãi trong cộng đồng người Việt tại hải ngoại, nhất là ở Hoa Kỳ. Những người bảo thủ với thành kiến quá nặng, không thấy được sự luôn luôn thay đổi vàvô thường của mọi vật, nên đã đánh giá chuyến đi là làm lợi cho nhà cầm quyền Hà Nội, giúp Hà Nội gia nhập WTO và tháo gỡ Việt Nam ra khỏi danh sách "các quốc gia đặc biệt đáng lưu tâm".
 |
Những người phóng khoáng hơn đã thấy đây là một cơ hội lớn cho Việt Nam. Chuyến đi có thể thay đổi, gây lại niềm tin mọi người và làm mới lại một đất nước Việt Nam, đầy nghi kỵ, sợ hãi và thờ ơ. Một đất nước mà sự suy đồi đạo đức đã xuống thấp đến một mức độ chưa từng xảy trong lịch sử. Trong một xã hội như vậy, đạo Bụt cũng bị ảnh hưởng rất nhiều. Những truyền thống tốt đẹp, phần vì không có cơ hội để phát triển và duy trì, phần bị ngăn cấm, gây khó khăn nên dần dần đã đi xa khỏi con đường tu tập chân chính. Vì vậy họ rất vui mừng và ủng hộ nhiệt tình cho chuyến đi của Sư Ông và tăng thân Làng Mai. |
Dĩ nhiên ngay tại Việt Nam cũng có hai khuynh hướng, nhưng mục đích của bài điểm báo này chỉ muốn giới thiệu cho độc giả các bài tường trình và bình luận của báo chí quốc tế về chuyến đi, và một phần nào về ảnh hưởng của các pháp môn Làng Mai trên thế giới.
Chuyến đi hoằng pháp của Thầy Thích Nhất Hạnh và tăng thân Làng Mai đã được báo chí quốc tế đề cập rất nhiều. Trước chuyến đi đã có nhiều báo loan tin về dự định của Thầy. Qua một vài trục trặc nho nhỏ, chuyến đi cuối cùng cũng được thực hiện như dự định. Vào ngày lên đường (ngày 11.01.2005), phóng viên của nhật báo Le Monde, một trong những nhật báo lớn và có uy tín tại Pháp, đã ra tận phi trường Roissy Charles De Gaulles (Paris) để phỏng vấn, trong lúc phái đoàn đang chờ đổi chuyến bay. Henri Tincq, phóng viên của nhật báo "LeMonde" (1) đã diễn tả về sự an nhiên tự tại của thầy như sau:
- Không một cái chớp mắt, không một câu nói, không một cử chỉ nào làm lộ ra cái cảm xúc của mình, thiền sư Thích Nhất Hạnh, 80 tuổi, đang tận hưởng giây phút này trong sự điềm tĩnh và an trú trong chánh niệm, điều chính yếu trong sự giảng dạy đạo Bụt của ông.
Bài báo nói sơ về tiểu sử, về những hoạt động cho hòa bình trong thời gian chiến tranh tại việt nam, đó cũng là lý do tại sao thầy phải sống lưu vong gần 40 năm. Báo cũng đề cập đến những cuộc gặp gỡ gần đây của thầy với những nhân vật quan trọng như tổng thống Bill Clinton,cựu tổng bí thư của Cộng Hòa Liên Bang Xô Viết cũ Mikhail Gorbatchev, v.v., đến sự thành lập của Làng Mai, được tả như một trung tâm tu học đạo Bụt quan trọng tại Âu Châu, nơi mà mỗi năm có hàng ngàn thiền sinh từ hơn 40 quốc gia và gồm nhiều truyền thống tôn giáo khác nhau về thực tập hơi thở chánh niệm, hạnh lắng nghe, nói lời ái ngữ. Về những điều kiện để có chuyến đi, báo viết:
- Thầy Nhất Hạnh đã đưa ra 3 điều kiện: 10 cuốn sáchcủa ông phải được xuất bản; được phép thuyết pháp công cộng; được tháp tùng bởi một phái đoàn tăng thân Làng Mai.
Bốn ngày sau khi về đến Việt nam, bà Kay Johnson, phóng viên báo TIME, ấn bản Á Châu, đã đến tận chùa Bồ Đề, Hà Nội để phỏng vấn và sau đó bài "A long journey home" (2) (Đường về sao quá dài) diễn tả sự tiếp đón Thầy và Tăng Thân Làng Mai:
- Đây là một sự trở về được đón tiếp như thể dành cho các bậc vua chúa, hay các danh ca nhạc rock hơn là một nhà tu. Chừng trên 1000 người hâm mộ chờ ở phi trường
Nội Bài trong buổi sáng giá lạnh, ôm chặt những bó hoa tươi, hát mừng và chen lấn để có được một chỗ đứng tốt. Khi Thầy Nhất Hạnh bước ra khỏi Phòng Kiểm Tra Di trú, đám đôngtừ phía sau xô đẩy ra phía trước, khiến nhiều người bị ép vào tường, và một số người bị hư rách giày dép,mũ nón. "Tôi đã chạm được vào Thầy, tôi đã chạm được vào Thầy" một phụ nữ mừng rỡ la to, và bật khóc lên sau đó.
Bài báo đã trích dẫn nhiều câu phát biểu của Thầy qua những đoạn sau:
- Tôi biết là chúng tôi đang được nhiều người giám sát rất kỹ, ngay cả - đặc biệt - những người công an. Nhưng chúng tôi không lo ngại vì tin rằng người công an cũng có Phật tính. Nếu mình tỏa ra niềm vui, từ bi, hiểu biết và bình an thì họ cũng sẽ có thể cảm nhận và hưởng được những điều ấy". Ông nói ông dự định đi thăm các hoà thượng không quy phục đang bị giam cầm cũng như các vị lãnh đạo giáo hội, và hy vọng sự thăm viếng này sẽ làm dịu đi thái độ của chính quyền đối với tôn giáo.
- Thầy Nhất Hạnh, với phong cách an nhiên của một Thiền sư, nói rằng ông không lo bị người ta lợi dụng để tuyên truyền. "Rất có thể là như vậy", ông nhận định như thế và nói tiếp: "nhưng cách thức suy nghĩ của tôirất độc lập, và không bị chi phối bởi những chuyện như thế. Mục đích của tôi là làm giảm đi mối lo ngại của nhà nước về sự đe dọa từ một Đạo Phật đứng ngoài vòng cương tỏa. Để có thể có tự do, điều cần thiết là phải giúp người ta buông bỏ những sợ hãi, ngộ nhận và kỳ thị của họ.
|
 |
Sau chuyến đi, một số báo đã ghi nhận:
Báo Le Monde số ngày 20-04-2005 (3) với tựa đề "La tournée du bonze Nhât Hanh au Vietnam confirme l'ouverture prudente du regime de Hanoi" (Chuyến đi Việt Nam của Thiền Sư Nhất Hạnh xác nhận sự mở cửa dè dặt của chế độ Hà Nội) tác giả Jean Claude Pomonticó những đoạn như sau:
- Thầy Nhất Hạnh, nhà sư Việt Nam được biết nhiều nhất ở Tây phương, vừa được về và đi viếng thăm khắp nước trong ba tháng. Ông tuyên bố những lời sau đây với báo Le Monde: "Với tình huynh đệ và tâm không kỳ thị, mình có thể sống hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại". Đó là một chuyến hoằng pháp rất khó khăn cho vị thiền sư, người chủ trương "Đạo Bụt nhập thế", và một đoàn tùy tùng vào khoảng 200 người, trong đó có nhiều tăng ni đến từ Làng Mai.
- Khi gặp Thủ Tướng Phan Văn Khải tại Hà Nội, ông đã yêu cầu nhà nước nên đối thoại với những người lãnh đạo của Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất. Ông chủ trương nên tách biệt tôn giáo và chính quyền và đề nghị: "Đừng nên mời các nhà sư làm dân biểu, làm hội viên của nhữ ngủy ban nhân dân hay của mặt trận Tổ Quốc" (cơ quan có nhiệm vụ kiểm soát các tổ chức được phép).
- Một Đảng viên Cộng Sản Việt Nam trong một cuộc hội đàm tại Hà Nội đã thú nhận: "thông điệp tình thương của Thầy nhằm ngăn chặn sự suy đồi đạo đức, nâng cao một nếp sống có giá trị luân lý, chống lại sự tham nhũng và tệ trạng ma túy, đã thu hút tôi.
Báo Bangkok Post số ra ngày 12-05-2005 (4) trong bài "I have arrived, I am home" (Đã về, Đã tới) tường thuật đặc biệt về sinh hoạt của Tăng Thân Làng Mai tại Quy Nhơn và cũng có đề cập đến sự kiện và lý do Thầy phải sống xa quê hương gần 40 năm, bất hạnh này đã không làm Thầy thối chí mà còn giúp Thầy có thêm nghị lực để đi tới:
- Giữa cơn bão tố, Thầy Nhất Hạnh đã giữ vững niềm tin"kẻ thù của chúng ta không phải là con người". Những năm tháng lưu đày đã làm sâu hơn tuệ giác của ông vềlòng từ bi vô biên và về năng lực của chuyển hóa và trịliệu: "Trước kia tôi thường nói rằng kẻ thù của chúng ta là sự tham vọng, hận thù, kỳ thị và bạo động. Nhưng hơn 20 năm qua, tôi không còn muốn gọi những tâm hành tiêu cực này là kẻ thù và cần phải bị tiêu diệt. Tôi đã nhận ra rằng chúng có thể được chuyển hóa thành những năng lượng tích cực như hiểu biết và thương yêu.
- Có thể tất cả những gì xảy ra đều có một chủ đích, để cho đứa con của đất nước Việt Nam ấy ra đi và gieo hạt giống Phật Pháp phía bên kia quả địa cầu, trước khi trởvề ôm trọn lấy đất mẹ của mình. Ở một góc độ khác,chúng ta có thể nói rằng người chưa từng ra đi. Trong một bài viết, Thầy Nhất Hạnh viết về nỗi đau lúc ban đầu của mình: "Khi tôi rời Việt Nam tôi đã không nghĩrằng tôi sẽ đi lâu. Nhưng rồi tôi bị kẹt ở bên này. Tôi cảm thấy mình như một tế bào bị tách ra khỏi cơ thể. Tôi như một con ong bị xa rời tổ ong. Nhưng tôi đã không khô chết như một con ong, vì tôi đã đi qua Tây Phương không phải như một cá nhân mà là với sự yểm trợ của một tăng thân và vì lợi ích cho tầm nhìn của tăng thân. Tôi đi để kêu gọi hòa bình.
Về buổi Cổ Phật Khất Thực báo diễn tả:
- Đây có lẽ là một buổi Cổ Phật Khất Thực mà sau bốn mươi năm người dân Quy Nhơn mới được tham dự. Mặc dù đêm trước đó ông đã lập đi lập lại nhiều lần là khi cúng dường cho một hòa thượng, cho một sư chú hay cho một sư cô mình cũng sẽ được phước đức như nhau, một số người vẫn không nghe lời. Vì thế những Hướng Đạo Phật Tử đã phải giăng tay làm hàng rào cản chung quanh vị thiền sư. Có lẽ sáng hôm đó là ngày bận rộn nhất của họ. Tại bãi biển nơi được dùng để ngồi ăn trưa, một bé gái đã tìm cách len đám đông để đến được gần Thầy. Mặc dù bình bát của ông đã đầy tới miệng, Thầy Nhất Hạnh vẫn xá để nhận phẩm vật cúng dường từ bàn tay nhỏ xíu của cô bé. Nhìn từ xa, dường như đó là một cái bánh ngọt. Ông luôn luôn muốn có mặt cho trẻ em.
Và nội dung các bài pháp thoại tại Quy Nhơn cũng được tường thuật, báo nói là Thầy đã giảng về sự thực tập nhìn sâu để thấy rõ chân hạnh phúc không nằm ở sự giàu sang hay danh vọng. Nhìn vào lòng bàn tay để thấy có tổ tiên, tình thương của mẹ và những thế hệ tương lai trong đó. Quán chiếu thật sâu mình cũng có thể thấy được sự không sinh không diệt.
- Thầy đã hỏi đại chúng: "Sau khi chết mình sẽ đi vềđâu?" và trả lời: "Điều này giống như đám mây trên bầu trời. Sức nóng của mặt trời đã biến nước của sông ngòi thành hơi, hơi này sau đó tụ lại thành mây. Rồi trở về vớiđất, với sông dưới dạng: mưa, tuyết, hoặc băng giá. Đám mây không bao giờ chết. Nó chỉ đổi dạng thành: mưa,sông, nước.
Khi nhìn bùn đen hoặc tuyết trắng mà bắt đầu không thấy xấu hay đẹp, khi có khả năng nhìn với tính cách không phân biệt hoặc nhị nguyên, lúc đó mình bắt đầucó được tình thương lớn. Trong con mắt từ bi, sẽ không còn phải và trái, bạn và thù, gần hay xa. Trong con mắt từ bi sẽ không có sự ngăn cách giữa chủ thể và đối tượng, không có cái tôi riêng biệt. Không có điều gì có thể lay chuyển được lòng từ bi.
- Trong tiếng Việt chữ "về" có nghĩa "về nhà" hoặc "trở về". Cách thực tập nằm trong chữ "trở về nhà" này. Trở về ở đây có nghĩa là từ bỏ sự rong ruổi, tìm kiếm. Trở về ở đây có nghĩa là mình đã nhìn thấy con đường. Trở về ở đây là trở về nhà, về căn nhà của hải đảo tự thân, về căn nhà của tự tánh chân thật. Trở về ở đây có nghĩa là về nhà của tổ tiên, của đạo pháp, của tăng thân(đoàn thể tu tập). Quê nhà là nơi có tình thương, hiểu biết, bình an và ấm cúng.
Cũng trong Bangkok Post, số ra sau đó một tuần, 19.05.2005 (5) với tựa đề "Beginning Anew" (Làm mới trở lại) đã bắt đầu bằng một một câu hỏi in đậm nét:
Liệu cuộc viếng thăm Việt Nam vừa qua của thiền sư Nhất Hạnh có nối lại được nhịp cầu giữa các đoàn thể tu học Phật giáo?
và đã nhận định như sau:
- Có lẽ sẽ cần nhiều thời gian để tiêu hóa và có lời giải đáp thích hợp cho chuyến viếng thăm quê hương vừa qua của Thầy Nhất Hạnh. Dư luận chống đối cho rằng chuyến viếng thăm này đã bị chính quyền cộng sản lợi dụng để tuyên truyền. Nổi bật nhất là họ cho rằng quyết định cho phép thiền sư về nước đã xảy ra vào thời điểm khi Mỹ dọa sẽ ngưng viện trợ kinh tế cho Việt Nam (sau đó chương trình này lại được tiếp tục). Dư luận hưởng ứng lại nghĩ rằng cuộc viếng thăm mở ra một giai đoạn mới, đầy hy vọng cho Việt Nam và cộng đồng Phật giáo trong nước.
Đúng như thế, có ít nhất là một sự kiện thành công đáng ghi nhớ. Vào tháng hai vừa qua, trong lúc Thầy Nhất Hạnh viếng chùa Từ Hiếu ở Huế. Ông đã chứng kiến một sự kiện lịch sử: các thầy từ hai giáo đoàn khác nhau đã đồng ý ngồi tụng giới với nhau sau 13 năm tranh chấp. Và nơi tụng giới quả thật rất hợp lý: đó là ngôi chùa mà Thiền sư đã tu tập nhiều năm khi còn là sa-di ("chú tiểu" hay "chú điệu" nói theo người Huế).
Báo cũng đã trích đăng bảy điểm đề nghị của Thầy về chính sách của Nhà Nước Việt Nam đối với Phật Giáo :
- Ý thức được những tệ nạn xảy ra trong nội bộ của Phật giáo trong nước, Thầy Nhất Hạnh đã đưa ra một danh sánh 7 điểm. Ông mong muốn chính quyền Hà Nội chấp nhận nó để làm việc với cộng đồng Phật Giáo.
- Nên có một sự chia tách rõ ràng giữa chính quyền và tôn giáo.
- Phía chính quyền nên thành thật lắng nghe và yểmtrợ cho 2 Giáo hội Phật Giáo mà không có sự kỳ thị, đặc biệt là khi đưa ra các chính sách liên quan đến vần đề tôn giáo.
- Cả hai Giáo hội được quyền tổ chức những chương trình nhằm xây dựng nền đạo đức và tâm linh trong nước nằm trong khuôn khổ luật pháp quy định để chấn chỉnh những tệ nạn xã hội và xây dựng lại một cộng đồng an lạc.
- Cả hai Giáo hội đều sẵn sàng yểm trợ để chận đứng tệ nạn tham nhũng trong hàng ngũ Phật giáo.
- Cấp giấy phép thường trú cho những tu sĩ nào muốn ở tại một tổ đình hay một tu viện nào đó để tu học, thay vì giấy phép tạm trú có thời hạn 3 tháng có tính cách hạn chế như hiện nay. Và thời gian để cấp hộ chiếu giảm xuống tối đa còn 21 ngày thay vì có thể phải chờ đợi từ2 tháng đến 2 năm như hiện nay.
- Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được chính quyền nhà nước công nhận và những vị lãnh đạo của Giáo hội này (đặc biệt là Hòa Thượng Huyền Quang và Quảng Độ) được tạo điều kiện để giảng dạy quần chúng.
- Ủy ban Tôn giáo của chính quyền không nên can thiệp vào sự điều hành cũng như đường hướng của các tổ chức tôn giáo mà chỉ nên yểm trợ họ xây dựng lại một xã hội lành mạnh cho Việt Nam".
(xin xem 7 điểm đề nghị chính thức cũng được đăng trong số báo này!)
Dư âm của chuyến đi vẫn còn được tiếp diễn, báo LeMonde des religions số 12 tháng 7/8.2005 (6), với tít lớn "Thich Nhat Hanh, Maitre bouddhiste de l'instant présent" (Thích Nhất Hạnh, thiền sư của giây phút hiệntại), mở đầu bằng hàng chữ đậm nét:
Giáo pháp của Thiền sư Nhất Hạnh dựa trên phút giây kỳ diệu của hiện tại. Rửa tay, tưới rau, bước đi trong hầm tàu điện... tất cả đều là Thiền. Và tất cả đều có thể là hạnh phúc. Hạnh phúc của sự tỉnh thức.
Báo mô tả phút giây xúc động khi Thầy lần đầu tiên trởvề lại chùa Tổ:
- Ở Việt nam Thầy đã trải qua những giây phút xúc động mà những người thân cận còn nhớ rõ, và ông cũng thường có hứng thú thuật lại trong các khóa tu do ông hướng dẫn. Đó là ngày ông trở lại thăm ngôi chùa xưa nơi ông bắt đầu xuất gia và trở thành sa di. Thầy Nhất Hạnh đưa tay sờ vào cổng tam quan, trầm tư một hồi lâu, ông quay lại nói với một Sư cô: "Con cho Thầy biết đây là thật hay mơ?". "Bạch Thầy, đây là thật ạ". Tiếp đó Thầy lại im lặng để tận hưởng những phút giây hiện tại diệu kỳ.
Tuy nhiên nội dung của bài báo cũng giống như tựa đề, phần lớn nói về sự thực tập sống tỉnh thức, an trú trong phút giây hiện tại để có thể đạt được hạnh phúc và coi Thầy như là một bậc thầy lớn của Đạo Bụt hiện nay. Báo cũng nói đến tính cách mạng có trong Thầy từ hồi nhỏ, ngay từ lúc mới đi tu vào năm 16 tuổi, Thầy đã nhận thấy ngôn ngữ của các giảng sư thời đó đã không thích hợp lắm, và đã nhủ thầm là khi lớn lên sẽ tìm một ngôn ngữ mới để có thể diễn đạt giáo lý đạo Phật sinh động hơn cho thế hệ tương lai. Cũng thế, khi mới biết sử dụng xe đạp (báo nói Thầy là nhà sư đầu tiên sử dụng xe đạp ở Việt Nam), Thầy đã quyết định thêm bài kệ thứ 53, bài kệ chạy xe đạp vào 52 bài phải học thuộc lòng thời đó. Và về những dấn thân của Thầy cho Việt Nam trong giai đoạn chiến tranh và cho người vượt biển, báo viết:
- Chiến tranh Việt nam đã đem lại cho Thầy cơ hội hình thành tác phẩm để đời của ông: Đạo Bụt đi vào đời, còngọi là Đạo Bụt dấn thân. "Tôi không thể ngồi yên thiền định trong chùa trong khi chung quanh tôi đang tràn ngập khổ đau". Và ông đã trở thành một chiến binh coi thường sống chết, băng qua những vùng lửa đạn để cứu người, vượt đại dương để cứu vớt thuyền nhân và đấu tranh tích cực cho hòa bình, hòa giải giữa người Cộng sản và người quốc gia chống Cộng. Vị thầy này đã khiến cho các chính quyền bấy giờ khiếp sợ: ngày 11 tháng 5 năm 1966, Thầy Nhất Hạnh bị buộc phải lưu vong. Ban đầu ông nghĩ là chỉ đi vài tháng, thế mà ròng rã phải đến 39 năm.
Về pháp môn của Thầy:
- Ngôn ngữ từ ái, hơi thở ý thức, bước đi chánh niệm, lắng nghe với tâm từ bi. Đó là con đường hạnh phúc, cũng là lời nhắn nhủ của ông, vị thầy của pháp môn: "Hành mà vô hành" áp dụng trong những sinh hoạt đời thường: đi đứng, làm vườn, uống trà..." và nhất là Thầy đã chọn sống trong hiện tại. "Nếu chúng ta chăm sóc hiện tại một cách hay nhất, chúng ta đã làm tất cả cho tương lai". Đó là câu trả lời cho những người còn hồ nghi là không biết phòng xa. "Nếu bạn không ngừng lo nghĩ về tương lai, cứ lo lắng cho tương lai, cứ sợ hãi cho tương lai, bạn sẽ đánh mất năng lượng của mình và không thể bảo đảm một tương lai tốt đẹp. Tương lai phải là một thực thể trong bản kế hoạch của giây phút hiện tại này".
Giáo pháp hơi thở chánh niệm, sống tỉnh thức, hạnh phúc trong phút giây hiện tại và chí nguyện làm mới Đạo Bụt, đưa Đạo Bụt vào đời của Thầy, như báo Le Monde vừanói ở trên, đã đơm hoa kết trái và được áp dụng tại khắp mọi nơi, mọi lãnh vực, nhất là những lãnh vực, nghề nghiệp dễ bị căng thẳng. Vì vậy trong những năm qua, Thầy và tăng thân Làng Mai thường được những cơ quan,tổ chức quan trọng mời đến mở khóa tu, thí dụ như khóa tu dành cho nhân viên công lực ngày 24.08.2003 tại Green Lake, Wisconsin mà tham dự viên là thẩm phán, chánh án, công tố viên, luật sư, biện lý, giám đốc trại giam, nhân viên gác tù và cảnh sát viên. Khóa tu dành cho dân biểu quốc hội Hoa Kỳ ngày 12-14.11.2003 và rất nhiều những khóa tu khác dành cho diễn viên điện ảnh tại Hollywood, cho các nhà thương gia, các bác sĩ, các bác sĩ tâm lý trị liệu v.v...
Ký giả Perry Garfinkel trong một bài báo đăng ở tờ National Geographic số tháng 12 năm 2005 (7) đã viết một bài về sự hưng thịnh của đạo Phật ở Tây phương, ông nói:
- Ngày nay một đạo Phật mới đang thành hình và lan rộng trên thế giới. Giáo lý của đạo Phật này gây cảm hứng cho nhiều pháp trị liệu thân và tâm, và mở đường cho những chính sách cải cách chính trị và bảo hộ sinh môi. Các nhà thể thao biết sử dụng các pháp tu để thành công hơn trong các cuộc thi đấu, các nhà kinh doanh biết sử dụng các pháp tu để vượt thắng tình trạng căng thẳng của tâm trí, các nhân viên cảnh sát sử dụng để vượt thắng những hoàn cảnh chống đối khó khăn, các bệnh nhân bị bệnh nan y sử dụng để có thể chịu đựng được dễ dàng hơn tình trạng bức xúc của các cơn đau nhức...
Vị ký giả này cũng ý thức rằng Thiền Sư Nhất Hạnh và tăng đoàn Làng Mai đã từng mở những khoá tu cho các nhà bảo vệ sinh môi, cho giới thương gia, cho giới cảnh sát công an, cho các nhà chính trị. Đầu bài báo, ông nói về công tác giúp người sắp chết của một trung tâm thiền ở San Fransisco thực hiện tại nhà thương Laguna Honda, cộng tác với các bác sĩ và y tá nhà thương. Ông viết:
- Công tác này cũng là một trong những ví dụ về "đạo Phật đi vào cuộc đời" (socially engaged Buddhism), một danh từ mà Thiền Sư Thích Nhất Hạnh đưa ra trong những năm 1960. Thiền Sư Thích Nhất Hạnh là ngườiViệt Nam, đã bị lưu đày từ những năm 1960 vì ông đã lãnh đạo phong trào bất bạo động chống lại cuộc chiến ở Việt Nam. Đến tuổi 79 ông cũng vẫn còn trung kiên với chủ trương "đạo Phật đi vào cuộc đời". Ông vừa mới được cho phép về nước để viếng thăm trong ba tháng, nhân dịp kỷ niệm 30 năm thống nhất đất nước của Đảng Cộng sản. Trong suốt ba tháng ấy, ông đã giảng dạy đạo Phật, giảng dạy trong một sứ sở ngày xưa đã coi ông như thù nghịch.
Tại miền Dordogne, tây nam nước Pháp, nơi trung tâm tu học Đạo tràng Mai Thôn, ngoài những thiền sinh đến từ mọi nơi để tu học, mỗi năm còn có những nhóm người Do Thái và Palestine tới để thực tập phương pháp chuyển hóa và hòa giải. Thầy Nhất Hạnh nói rằng ban đầu thường thường là họ có nhiều khó khăn và hiềm khích, nhưng sau một thời gian học hỏi và thực tập thành công, họ đã có thể hòa giải và ôm được nhau.
Thầy Nhất Hạnh nói, bằng một giọng gần như thầm thì:"Phải bắt đầu bằng câu châm ngôn cổ điển: ngồi xuống cho yên, đừng lăng xăng vội vàng làm hết chuyện nàytới chuyện khác". Dáng người mảnh khảnh, hai tai lớn, đôi mắt có cái nhìn thẳm sâu, Thầy ngồi trên bậc cửa của thiền thất Thầy, nhìn xuống các ruộng nho vùng Bordelais: "Muốn thành công trong công tác chuyển hóa xã hội, phải học và làm cho được cái mà ngày xưa Đức Thế Tôn đã học và làm được. Đó là làm cho tâm mình lắng lại. Sau đó, mình không cần đi tìm hành động, mà hành động sẽ tự động tìm tới mình".
Để kết thúc xin dùng một đoạn trong bài Beginning Anew của báo Bangkok Post, đã trích dẫn ở trên:
- "Dấu hiệu mùa xuân đang ló dạng ở Việt Nam". Thầy đã viết như vậy vào ngày 20.01.1963 trong tập nhật ký Fragrant Palm leaves: "Dù quê hương tôi có đau khổ vàmất mát, mùa xuân luôn luôn trở về với hy vọng. Mùa xuân luôn luôn cho ta sự tin tưởng để tiến bước. (8)
(1) Le Monde 12.01.2005: "Après 39 ans d'exil, le Maitre Zen Thich Nhat Hanh rentre au Vietnam" (Sau 39 năm lưu vong, thiền sư ThíchNhất Hạnh trở về Việt nam), tác giả Henri Tincq.
(2) TIME, ấn bản Á Châu, 24.01.2005, số 165, ra ngày 24-01-2005:"A long journey home" (Đường về sao quá dài...), tác giả Kay Johnson
(3) Le Monde số ngày 20-04-2005 với tựa đề: "La tournée du bonze Nhât Hanh au Vietnam confirme l'ouverture prudente du regime de Hanoi" (Chuyến đi Việt Nam của Thiền Sư Nhất Hạnh xác nhận sự mở cửa dè dặt của chế độ Hà Nội), tác giả Jean Claude Pomonti
(4) Bangkok Post số ra ngày 12-05-2005, bài "I have arrived, I am home" (Đã về, Đã tới), tác giả Vasana Chinvarakorn
(5) Bangkok Post số ra ngày 19.05.2005, bài "Beginning Anew" (Làm mới trở lại), tác giả Vasana Chinvarakorn
(6) Le Monde des religions số 12 tháng 7-8.2005, bài "Thich Nhat Hanh, Maitre bouddhiste de l'instant présent" (Thích Nhất Hạnh,thiền sư của giây phút hiện tại) tác giả Djenane Kareh Tager
(7) National Geographic số tháng 12.2005, bài "Buddha Rising - Out of the monastery, into the living room" (Bụt đang vươn lên - Ra khỏi tu viện, đi vào phòng khách), tác giả: Perry Garfinkel
(8) Trích từ "Nẻo Về Của Ý", Thích Nhất Hạnh, Lá Bối, Ấn bản 1997, trang 237. Nguyên tác:"Dù sao mùa Xuân cũng đã thấy lấp thoáng ở quê nhà. Dù cho quê nhà đang lâm vào tình trạng khốn khổ đau thương đi nữa mùa Xuân cũng nên trở về để trao cho Việt Nam khổ đau bức thông điệp hy vọng của sự sống màu nhiệm, để chúng ta đặt niềm tin ở tương lai mà vững lòng đi tới".
 |
|
|
|