sư chú Pháp Hộ
Anh Nguyễn Minh Trí chuyển dịch
Sư chú Pháp Hộ người Thụy Điển là một "sư Tây" trẻ Làng Mai, đã thọ giới Sa Di được ba năm. Chí nguyện độ đời cùng sự thực tập tinh chuyên giúp sư chú có nhiều chuyển hoá. Sưchú rất vui khi được tháp tùng Sư Ông Làng Mai trong chuyến đi Việt Nam, tuy đôi lúc cảm thấy hơi khó chịu vì "không gian cá nhân" tối thiểu của mình bị xâm chiếm. Nhất là khi quý tăng ni và Phật tử Việt Nam tìm tới làm quen và xin được chụp hình chung với các "sư Tây" Làng Mai. Được ăn Tết Ất Dậu ở Việt Nam năm nay đã cho sư chú nhiều cảm hứng để viết bài "Sống trong năm Gà" này.
Kính thưa các chú bác, cô dì và anh chị em trên khắp hoàn cầu. Khi con viết thư này, năm Gà chỉ còn một hai con trăng nữa là chấm dứt. Nhớ đến kỷ niệm được vui Tết ở Sài Gòn với Thầy, sư cô Chân Không cùng tứ chúng, con sung sướng vô cùng. Một chiều nọ, chúng con được dạo xem một trong những chợ hoa lộng lẫy trong một công viên tuyệt đẹp của Sài Gòn. Những bông hoa muôn màu, muôn vẻ, dĩ nhiên nhiều nhất là hoa vàng, rồi đến nhiều loại cây kiểng con, nhiều loại cây xương rồng vàn hiều thứ khác nữa. Lần đầu tiên nhìn thấy trái thanh long từ thân cây mọc ra. Vô cùng kinh ngạc, con tự hỏi: "Mèng ơi, trái cây hồng thẫm với hình dáng lạ lùng thế lại mọc từ cây này mà ra à? Thôi đúng rồi!"
Trong khóa tu Mùa Thu ở xóm Thượng Làng Mai, các sa di lâu năm chúng con mỗi tuần họp một lần để chia sẻ kinh nghiệm và tuệ giác về sự thực tập uy nghi. Một trong những chương đầu dạy về sự tôn kính dành cho Thầy và cho các sư anh, sư chị của mình. Vì vậy mùa thunày con được dịp suy nghiệm về lòng tôn kính và cũng để tưới tẩm thêm hạt giống lành, nên con viết thư này gửi đến các bạn đồng tu.
Thuở nhỏ, ở Thụy Điển, con thường gọi người lớn một cách cung kính bằng "Ni" (từ xưng hô lễ phép trong tiếng Thụy Điển) và những người khác bằng "Du" (từ xưng hô thân mật trong tiếng Thụy Điển). Bây giờ cách giao tiếp lịch sự này cũng biến mất ngoài xã hội, nhưng điều này vẫn sống mãi trong con nhờ ba mẹ và thầy cô đã giáo huấn kỹ. Trong siêu thị, con thường giữ cửa cho người đi sau, con hay đứng dậy nhường ghế cho người già trên xe buýt, xe điện ngầm. Nếp lễ phép này tuy đơn sơ nhưng đã nuôi dưỡng con, giúp con ý thức được sự có mặt của người khác và cung cách con tiếp xử với họ.
 |
Trong khi tu, chúng con có nhiều cơ hội thực tập bày tỏ lòng tôn kính: tôn trọng sự sống, tôn trọng tư hữucủa người khác, tôn kính Thầy, sư anh, sư chị, sư em,tôn trọng quan điểm của người khác, biết quý trọng bản thân,... Trong một buổi sinh hoạt, con được nghe một huynh đệ nói rằng Thầy dạy tôn kính thầy là thực tập sựquý trọng chính mình. Thoạt nghe con thấy mình khó nuốt trôi và tiêu hóa nổi điều này. Quan điểm của Thầyhoàn toàn khác hẳn quan điểm của con về sự kính trọng.Lúc ấy con trở về với hơi thở, theo dõi tâm ý mình để cóthể dừng lại lắng lòng nghe lời dạy của Thầy. Chỉ mới làm chừng ấy thôi con đã thấy mình đang thực tập tỏ lòng tôn kính, vì con đã dừng lại được để xem phải chăng cái hiểu và cái thấy của mình trong một trường hợp nào đó chưa chắc đã sâu sắc nhất. Kể từ khi đặt niềm tin nơi tuệ giác của Thầy, con đã có sự kính trọng Thầy. |
Con đã không gạt ngay lời dạy của Thầy, mà để nó thấm sâu, giúp con hiểu được thâm ý của Thầy. Sự kính trọng này cũng được dành cho con bởi vì con đã biết dừng lại, trởvề với hơi thở và tự thân, thay vì đánh mất mình trong những phản ứng vội vàng.
Kinh nghiệm và ý niệm về sự tôn kính đã được hình thành qua nhiều thế hệ tương tự như một phiến đá vôi với một lỗ tròn xuyên suốt được tạo thành bởi vô số những giọt nước. Đó là điều hôm qua con chợt nhận ra. Trong con đã tích lũy bao nhiêu kinh nghiệm của tổ tiên. Họ đã kiên nhẫn, hai tay cầm mũ đứng chờ ông chủ đi ăntối từ nhà hàng trở về. Sau một tuần làm việc cực nhọc, họ hy vọng ông ấy vẫn còn đủ tiền để trả lương. Nhiều hoàn cảnh khác nhau trong xã hội đã vun đắp cho con quan niệm về sự kính trọng rằng người trên, người mạnh, người lớn được quyền nhìn xuống hay quyết định trên kẻ dưới, kẻ yếu, kẻ nhỏ. Trở về với hơi thở, thấy rõ được những nhận thức quá khứ này trong con, đã giúp con mở được cánh cửa đưa đến cái nhìn mới hơn, sâu sắc hơn về sự kính trọng.
Một trong những bài pháp của Bụt mà con thích nhất là chuyện Bồ Tát Thường Bất Khinh trong kinh Pháp Hoa. Thầy chia sẻ về hạnh nguyện của vị Bồ Tát này trong khóa tu 21 ngày với chủ đề "Bàn tay của Bụt" vào tháng sáu 2002. Vị Bồ Tát này đi khắp nơi, thấy trong mỗi người mà ngài gặp đều có tánh Bụt và nói: "Tôi không dám khinh Ngài, Ngài là một vị Bụt tương lai". Theo con, đây là sự thực tập sâu sắc nhất về sự tỏ lòng tôn kính. Chúng ta đều có khả năng nhận ra được tánh giác ở người khác, thấy được những phẩm chất cao quý, những khả năng tuyệt vời nơi họ. Khi nhận ra được các khía cạnh tốt đẹp này, chúng ta dễ dàng chấp nhận những thói quen và hành động không dễ thương đang biểu lộ nơi họ. Chúng ta biết rằng đấy chỉ là những ký sinh trùng đang tạm thời bám vào người ta thương. Chúng ta không ráng sức tìm cách thay đổi hay tiêu diệt những ký sinh trùng này, mà chỉ cần nhận diện, chấp nhận và ôm ấp chúng với tất cả tình thương. Hạnh của Bồ Tát Thường Bất Khinh giúp con vun trồng khả năng tưới tẩm/để ýđến nét đẹp nơi người khác bằng thân, khẩu, ý của con.Nhờ sự chăm sóc này mà những hạt giống lành nơi người kia được tăng trưởng và đơm hoa. Thực tập như thế đem lại cho con rất nhiều hạnh phúc bởi vì đồng thời con cũng đang tưới tẩm những hạt giống tốt lành trong con, hạt giống của tình thương, tĩnh lặng, an lành, từ bi và hoan hỷ. Điều ý thức rằng sự thực tập của mình đang còn non yếu cũng làm tăng thêm niềm vui trong con, khi hiểu rằng hạnh phúc trong đời mình còn có thể lớn hơn nhiều lần nữa.
Thực tập hạnh của Bồ Tát Thường Bất Khinh còn có thể giúp ta đối trị được căn bệnh phổ cập của thời đại, đó là: ta chỉ kính trọng những người mà ta cho là xứng đáng mà thôi. Sự "kính trọng sai lầm" này được dựa trên nền tảng không mấy vững chắc, đó chỉ là những ý niệm và nhận thức của ta. Nếu có ai đó làm điều gì, hay có những đặc tính phù hợp với ý tưởng của ta, hay của cộng đồng/xã hội ta thì ta kính trọng người đó. Còn nếu ta không hiểu được, hoặc vì người đó quá khác biệt với ta thì ta tỏ vẻ không ưa họ. Ta vẫn còn bị kẹt trong những khái niệm: ta-người, mạnh-yếu, đúng-sai, vì thế ta đau khổ. Ta quên rằng ta không phải là những cá thể biệt lập/độc lập với nhau, và ta cũng quên mất là ta có khả năng tỉnh thức để nhận ra được điều này. Đối với con, sự "kính trọng đúng đắn" không có nghĩa là phải làm theo ý thầy, sợ làm phật ý thầy, sợ bị chê bai hay ghét bỏ. Mà đúng rasự "kính trọng đúng đắn" phải bắt nguồn từ lòng mong muốn đem hạnh phúc cho thầy, cho thấy mình trân quý sự có mặt của thầy, và mình biết ơn công lao dạy dỗ của thầy. Kính trọng thầy và cha mẹ bằng cách này giúp ta có lòng tôn kính đối với chính ta, bởi vì ta nhận ra được những cái đẹp nơi thầy và nơi cha mẹ mình. Ta trân quý và ý thức được rằng những nét đẹp này cũng đã được trao truyền cho ta. Phát triển khả năng thấy và trân quý những đức tính tốt nơi người sẽ giúp ta nhìn chính mình cũng bằng đôi mắt ấy. Đôi mắt thương yêu và tử tế củamình sẽ có thể là nguồn hạnh phúc lớn cho mình và cho những người thân yêu. Tôn trọng tất cả mọi loài, nguyện mang hạnh phúc cho tất cả chúng sinh đó là con đường của người xuất gia. Khi trở về với chính mình, không làm mất giây phút hiện tại bởi những ý nghĩ và cảm xúc thì tự nhiên ta có khuynh hướng đối xử tốt đẹp với người khác bằng tình thương và lòng kính trọng. Vốn lớn lên là con một trong gia đình nên con không có kinh nghiệm sống chung với anh chị em ruột, nhưng từ ban đầu con đã tiếp nhận được lời dạy của Chúa Giê-Su: "Hãy làm cho người khác những gì con muốn người khác làm cho con". Lời dạy này giúp con nhớ rằng người đối diện, như sư anh, sư em, sư chị của con cũng có cha mẹ, thầy bạn, cảm xúc, ý tưởng... cùng những thứ khác như con. Khi con có mặt và có ý thức, con có thể thấy được những xúc cảm, suy nghĩ, niềm vui, nỗi khổ của họ cũng là của chính con và ngược lại cũng vậy. Khi sống gần gũi với người khác, tathế nào cũng hiểu được điều này. Ta biết rằng, sống với một người có an lạc và hạnh phúc sẽ giúp ta có an lạc và hạnh phúc. Tương tự, sống gần một người khổ vì loâu và phiền giận cũng đánh thức những hạt giống lo âu và phiền giận trong ta. Vì thế sự thực tập hơi thở chánh niệm, đi trong tỉnh thức và ăn trong chánh niệm sẽ giúp ta hiểu được rằng ta có thể nắm vững thân, cùng những cảm thọ, tri giác, tâm hành và ý thức của ta. Sự hành trì chánh niệm sẽ đem lại cho ta năng lượng an lành, hạnh phúc và không gian, những thứ này có thể giúp ta thoát ra khỏi vòng trầm luân. Thoát ra được rồi, ta bắt đầu biết chọn lựa cách hành xử với những người chung quanh, biết tưới tẩm những hạt giống hòa hợp, hạnh phúc, bìnhan. Sự kính trọng trở nên một thành phần tự nhiên trong tất cả những nghiệp về thân khẩu ý của ta. Thấy được nét đẹp nơi người khác sẽ nuôi dưỡng sự hài hòa giữa ta và người, làm cho cả hai đều nở hoa, hiến tặng hương thơm, hình dáng và màu sắc riêng biệt của mình, tựa như những cây-hoa-bạn của ta được bày trong chợ hoa ở Sài Gòn.
Như cây có rễ, ta cũng có những gốc rễ có khả năng hút được chất bổ chung quanh. Nguyện cho chúng ta biết dùng mắt, tai, mũi, lưỡi và xúc giác như thế nào để chúng ta có thể kính trọng và thương yêu mọi người và mọi loài, hầu tất cả được sống chung an lạc. Phương pháp thực tập này sẽ là hành trang cho con trong năm Bính Tuất.
Xin cám ơn sự có mặt của bạn đã góp phần vào sự tươi đẹp và hài hòa của thế giới.
|