Tu Viện Lộc Uyển
Kính chào quý vị,
Chúng ta đã về, chúng ta đã tới.
Kính xin quý vị
cùng thở sâu và nhẹ.
 

Mùa Xuân Sang Có Hoa Anh Đào

 

Xin viết về anh chị em tôi, những người hướng về tình người. Ngày đêm tu tập chánh niệm, rạng rỡ như anh đào nở giữa xuân.

Tôi trở về Lộc Uyền vào tiết xuân. Trời vẫn còn khá lạnh và âm u. Dọc theo cầu thang từ khu vực hồ bơi dẫn xuống thiền đường Sao Trên Biển, những cây anh đào nở rộ với hàng ngàn đóa hoa hồng nhạt xen lẫn với những đóa hoa đỏ thắm. Lần đầu tiên nhìn những bông hoa ấy, tôi ngẩn người ra. Sao chúng đẹp và...thân quen quá!Tôi đứng lặng yên và chợt hiểu rằng tâm thức tôi đã liên đới những đóa anh đào tươi mát ấy với những đôi má hồng hào và nụ cười rạng rỡ của các sư anh, sư chị, và sư em của tôi ở Bát Nhã. Lòng tôi cảm thấy thật hân hoan, và từ hôm đó mỗi khi đi ngang qua những cây anh đào, tôi lại dừng chân và mỉm cười.

Trong những buổi chia tay với đại chúng Bếp Lửa Hồng và Rừng Phương Bối của Tu Viện Bát Nhã, tôi đã chia sẻ rằng tôi chưa rời Bát Nhã mà tôi đã nhớ Bát Nhã rồi! Tôi đã có ý thức sâu sắc về những tuần cuối cùng của tôi ở Bát Nhã...những con đường thiền hành dọc theo bờ suối, những cây trà cây mít, những đêm trăng sáng, những món ăn các sư chị sư em đã đặc biệt nấu cho tôi, và nhất là những khuôn mặt hân hoan tươi sáng của các anh chị em của tôi. Thật sự trong tôi không có cảm giác bịn rịn hay luyến tiếc về sự ra đi, vì tuy tâm tôi còn nhiều giới hạn, tôi đã sống và san sẻ hết khả năng thương yêu của mình.
Có vài sư em trai đã dặn tôi, ''Khi chị đẳng nghiêm về Lộc Uyển, đừng quên chúng em ở Rừng Phương Bối nha.'' ''Tôi xin hứa chẳng bao giờ phản bội, vì tim em đã hóa trái tim tôi.'' Thật ra tôi không phải ''hứa,'' vì tôi thấy rõ rằng các sư anh, sư chị, sư em của tôi đã trở thành một phần của tôi, cũng như tôi đã trở thành một phần của họ.

Tôi sống với đại chúng Bát Nhã trong vòng bốn tháng rưỡi, nhưng tôi cảm thấy như tôi đã sống ở đó hơn một năm, và những gì tôi trải nghiệm, học hỏi đã được nén như trong những đĩa MP3. Trước khi về Bát Nhã, tôi đã có rất nhiều dự án, nào là thiết kế hồ sơ phỏng vấn sức khoẻ, nào là phụ trách lớp y khoa và lớp tiếng Anh, nào là nâng cao ý thức về dưỡng chất trong thức ăn và về vệ sinh cá nhân, vân vân và vân vân. Tôi đã thở và mỉm cười với cái tâm đầy tham vọng của mình. Mặc dù nó tiếp tục lo lắng và dệt đan bao nhiêu là dự án, tôi tin rằng cái tôi có thể đóng góp cho đại chúng Bát Nhã chính là sự tu tập của tôi. Trong buổi barbeque ngoài trời để tiển đưa tôi, tôi đã chia sẻ điều này với các sư chị sư em xóm Bếp Lửa Hồng. Tôi thật sự đã không làm gì cho đại chúng Bát Nhã; những dự án và tham vọng ấy, tôi đã hoặc không hoàn thành hoặc không đeo đuổi. Nhưng tôi đã thật sự sống chết với sự tu tập của mình, và đó là cái tôi để lại cho mọi người. Tháng đầu tiên ở Bát Nhã, nhìn đâu tôi cũng thấy những sai sót. Tôi đã thường xuyên lên tiếng nhắc nhở đại chúng về mặt uy nghi cũng như chỉ trích thái độ thiếu năng nổ trong sự tu tập và trong sự làm việc của một số vị tập sự cũng như xuất gia. Trước khi tôi rời Lộc Uyển, một sư anh đã dặn dò tôi,''Nếu khi nào sư em muốn nhắc với cương vị của một bác sĩ hay của một sư chị, thì sư em ngậm miệng lại, đừng nhắc.'' Nhiều lần tôi đã không ngậm miệng lại được. Tôi nhìn các sư mẹ và sư chị của tôi, như sư cô Thoại Nghiêm, Hỷ Nghiêm, và Tịnh Hằng. Họ cũng nhắc đại chúng mỗi ngày trong buổi họp chúng trước khi chấp tác, nhưng họ ca ''những bài ca không quên (hay quên?)'' và ''cạo gió'' với vẻ mặt điềm tỉnh, với lời nói ái ngữ, pha với sự văn vẻ và dí dỏm (tùy theo cá tính của mỗi vị). Họ cũng nhắc, nhưng các em đều cười khúc khích và hoan hỷ tiếp nhận cái thông điệp của họ. Có lần tôi nhìn sư cô Thoại Nghiêm dùng đầu ngón tay lần từng cái áo, từng cái lưng quần trong nhà phơi đồ, để tịch thu tất cả những đồ đã khô nhưng không được đem vào như sư cô đã thông báo trước. Một sư em khác cũng đứng lặng yên bên cạnh tôi. Chị em tôi nước mắt rưng rưng, trong khi sư cô Thoại Nghiêm cười tươi rói, khoác tay bảo các sư em đang luống cuống xin lại đồ của mình, ''Tí nữa vô văn phòng trả tiền phạt rồi chị cho lấy lại đồ.'' Sư cô cũng nói tỉnh bơ với một sư cô lớn khác,''Sư chị cũng phải trả tiền phạt.''

Tôi thấy hổ thẹn và bị dằn vặt bởi sự nghiêm trọng và thô tháo của mình. Có lúc tôi tự bào chữa, rằng tôi muốn xây dựng tăng thân; rằng tôi lo sợ Bát Nhã cô phụ Thầy và bao người đang góp tay yểm trợ cho Bát Nhã. Nhưng cái luôn cứu tôi chính là sự nhìn lại và thành thật với chính mình. Tuy tôi có những thiện ý ấy, tâm tôi vẫn còn nhiều định kiến, kỳ thị, phán xét, và mong cầu. Tôi có những tiêu chuẩn và đòi hỏi mà một chúng tu học non trẻ như vậy không thể nào đạt được. Không phải tôi kiên cố bám vào những tà kiến đó đâu; chúng hạn chế khả năng thương yêu tiềm tàng trong tôi, là những vết mây đen trên bầu trời trong xanh. Tôi muốn được tự do lắm chứ, nhưng tâm phân biệt trong tôi như ngựa quen đường cũ. Tôi cứ phải kiên nhẫn bám vào hơi thở và bước chân, vì hơi thở và bước chân là dây cương có công năng gìm lại và giữ vững sự tư duy của tôi ở một tốc độ đều (steady my thoughts), để tôi có thể nhận diện được những tà kiến và tà tư duy đang đi lên, buông xả chúng, chỉnh đốn chúng với ánh sáng của chánh kiến và chánh tư duy. Chánh kiến của tôi là lời Thầy dạy, ''Xứng đáng chỉ có lòng xót thương.'' Chánh tư duy của tôi là tôi không muốn gây đau khổ cho tôi hay cho bất cứ một ai nữa. Ở Làng Mai cũng như ở Lộc Uyển, tôi đã từng đi thiền hành một mình hoặc ngồi thiền thật lâu và nghĩ rằng tôi đang ''quay về với chính mình.'' Nhưng những lúc ấy nếu không khéo, tôi chỉ đang đồng ý (agreeing) với cái tôi mà thôi. Ở Bát Nhã tôi đã không có nhiều không gian bên ngoài và thời gian cá nhân để đi thiền hành hoặc ngồi yên một mình, và tôi đã có cái thấy mới, rằng giây phút tôi ''quay về với chính mình'' chính là giây phút tôi có sự tỉnh thức về 5 uẩn của tôi, nhưng không bị lôi cuốn bởi nó, hoặc ruồng bỏ nó, hoặc vô tình, vô ý thức về nó. Tôi hiểu hơn lời Bụt dạy trong Kinh Quán Niệm Hơi Thở, ''Khi hành giả thở vào hoặc thở ra mà có ý thức về tâm ý, làm cho tâm ý an tịnh, thu nhiếp tâm ý vào định hoặc cởi mở cho tâm ý giải thoát tự do, thì khi ấy hành giả đang an trú trong pháp quán niệm tâm ý trong tâm ý, tinh tiến, tỉnh thức, biết rõ tình trạng, vượt khỏi mọi tham đắm cũng như mọi chán ghét đối với cuộc đời.'' Sự tinh tiến tỉnh thức giúp người tu dần dần có khả năng không tham đắm cũng như không chán ghét những gì mình nhận biết trong mình và chung quanh mình. Đây là sự tự do và giải thoát mà người tu có thể trực nghiệm được trong công phu tu tập hàng ngày.

Người Việt mình thường nói, những người sống nội tâm hay khổ. Tôi cũng đã được liệt vào hạng người sống nội tâm. Bây giờ thì tôi hiểu rằng ''sống nội tâm'' nghĩa là sống (và chết dần chết mòn) với cái cảm thọ, tri giác, và nhận thức của mình thay vì có mặt cho những gì đang thực sự xảy ra trong giây phút hiện tại. Từ lúc xuất gia, tôi học sống nội tâm ít hơn. Hơi thở và bước chân trong chánh niệm giúp tôi thấy cái ''nội tâm,'' và cùng lúc quán sát, tiếp xúc được với tình thương đang có mặt trong tôi và chung quanh tôi. Những ngày chúng tôi phỏng vấn các em tập sự và các sư cô đến từ chùa khác đã giúp tôi đập phá dần những bức tường thành kiến trong tôi.

...Có những sư em như các em ''Huệ'' đã được sư phụ đích thân đem đến Bát Nhã để gởi gắm. Các em đã được sư phụ dạy dỗ và thương yêu hết mực, nay lại được sư phụ yểm trợ trong việc tu học ở Bát Nhã, nên các em hòa vào đời sống tăng thân một cách nhanh chóng và phụng sự đại chúng hết lòng. Có lần sư em Huệ Bổn nói với tôi, Con là con nuôi của Sư Ông. Tôi liền chỉnh em, Sư em là cục vàng của đại chúng đó.
...Có những sư chị sư em không may mắn bằng các sư em Huệ. Sư phụ của họ không cho phép họ rời chùa. Những vị này phải trốn đi, hoặc ra đi không có sự đồng ý chính thức của thầy mình. Đó là nỗi đau luôn ám ảnh và dằn vặt họ.
...Có những em tìm đến với tăng thân vì mến mộ hình ảnh của người tu từ nhỏ hoặc từ lúc gặp tăng đoàn Làng Mai.
...Có những vị có thầy rất giỏi, nhưng lại chỉ lo việc xây cất chùa hoặc cúng đám mà lãng quên chuyện chăm sóc và dạy dỗ chúng. Một em chia sẻ rằng tuy em đã từng mặc áo người tu, nhưng em không có chất liệu của người tu ở bên trong. Càng ở trong chùa, em càng oán thầy và chán ngán các chị em đồng tu.
...Có những em thấy đời sống của cha mẹ và của mình quá vất vả: ''Làm việc từ sáng đến tối, cực khổ quá!'' Tôi nói, Nhưng ở đây em cũng phải làm việc và theo thời khóa của đại chúng suốt ngày vậy . ''Nhưng mà ở đây vui quá, con làm việc không thấy mệt,'' em trả lời, miệng mỉm cười thật xinh.
...Có những vị có thầy tin tưởng, dung chứa những người cư sĩ hoặc những người tu không chân chính, gây nên nhiều tai nạn và đỗ vỡ trong chúng. Những vị đó phải đau lòng bỏ thầy ra đi để tránh nạn cho chính mình.
...Có những vị bị thầy đối xử không công bằng, hoặc bị đánh đập, chưỡi mắng thường xuyên.
...Có những em cha mẹ mất sớm, ở với bà con hoặc với cha mẹ nuôi. Lớn lên các em luôn cảm thấy mặc cảm, và hạt giống đi lang thang (mà Thầy thường gọi là hạt giống''ma đói'') rất lớn trong các em.
...Có những em cha hoặc mẹ phạm tội tà dâm, làm gia đình tan nát. Có em cố gắng ôm ấp và an ủi người cha bị bỏ rơi. Có em xa lánh trách móc mẹ, rằng vì mẹ mà cha bỏ đi. Sự học hành của các em đi xuống trầm trọng, và cuối cùng chính các em đã chọn vào Bát Nhã để tu tập, hầu mong hàn gắn lại những vết thương trong tự thân và trong gia đình.
...Có em phải đi làm thuê để nuôi mẹ vì mẹ bị bệnh tâm thần. Mỗi khi mẹ lên cơn điên, lại rượt em và đánh em như kẻ thù. Em lại phải la hét, vung tay đá chân để đuổi đi những người đàn ông muốn lợi dụng mẹ và lợi dụng cả em. Một hôm em ngồi cạnh bên tôi và thỏ thẻ, ''Sư cô ơi, một nửa của con thích ở đây lắm, nhưng một nửa của con muốn bỏ đi.'' Tại sao vậy em? Tôi hỏi. ''Vì con nhớ làm đại ca,'' em trả lời. Trước khi tôi rời Bát Nhã, em tặng tôi một cái thiệp nhỏ xíu, một mặt viết,''Món quà nhỏ vạn niềm thương. Tình người thể hiện, quê hương tỏ lòng,'' và mặt đối diện viết, ''Lời nguyện: Con xin nguyện không tưới tẩm những hạt giống bạo động và hận thù nơi con và nơi người. Hi...hi.''
...Có những em đã từng bị hãm hiếp, và vết thương hằn sâu trong tâm thức của các em. Có em khép kín mình lại, tránh xa đàn ông. Có em lại thiết lập những quan hệ tình dục với những người đàn ông đã có gia đình, để ''trả thù bằng cách phá gia can của họ.''
...Có các em người dân tộc rất ngây thơ và vô tư. Sư chị Phúc Nghiêm hỏi một em, Tại sao em muốn đi tu? Em trả lời, ''Tại vì con muốn xuất gia.'' Một lúc sau tôi hỏi lại, Tại sao em muốn xuất gia? ''Tại vì con muốn đi tu,'' em trả lời một cách chân thành. ''Nếu em về thăm nhà mà cha mẹ năn nỉ em ăn cá, em có ăn không?'' Sư cô Thoại Nghiêm hỏi. ''Dạ không.'' ''Tại sao không?'' ''Vì con đã bị mắc xương cá một lần.'' ''Vậy nếu cho em ăn thịt gà em có ăn không?'' ''Dạ ăn,'' em trả lời gọn lỏn. Hôm phỏng vấn các em ''Mó'' người dân tộc là ngày vui nhất trong các buổi phỏng vấn của chị em chúng tôi. Chúng tôi cứ thay nhau đặt câu hỏi và cười ngất với những câu trả lời của các em. Sư cô Thoại Nghiêm móc túi...cho một cục kẹo sô cô la cuối buổi phỏng vấn của mỗi em. Tôi cũng xoè tay ra, Sư mẹ cho con một cục với. ''Khổ em ghê!'' sư mẹ vừa nói vừa lôi ra một cục kẹo cho tôi.

Còn bao nhiêu hoàn cảnh khác nữa...với những tiếng cười xen lẫn những giọt nước mắt bi thương. Chị em chúng tôi nương vào hơi thở và nương vào nhau để tiến hành với những buổi phỏng vấn như vậy hết ngày này qua ngày khác, để hiểu rõ hơn các em tập sự đang xin được xuất gia và các vị tu sĩ đang xin được nhập chúng thường trú. Lắng nghe họ chia sẻ, tôi tiếp xúc được với những con người bằng xương bằng thịt, chứ không phải những ''tập sự'' hay những ''sư cô/thầy từ chùa khác đến.'' Sự cảm thông và tình thương trong tôi lớn dần. Tôi thật sự nhìn họ như anh chị em của tôi, và cầu mong rằng họ có thể cắm rễ vào tăng thân để tu tập và vững bước trên con đường chuyển hóa.

Có những ngày chúng tôi phỏng vấn 3 lần, sáng trong giờ chấp tác, trưa trong giờ có lớp học, và tối trong giờ ngồi thiền tụng kinh. Nhiều lúc tôi mệt quá chỉ muốn về phòng nằm nghỉ, nhưng các sư em cùng phòng luôn lấy bình bát của tôi, ấn chặt cơm và thức ăn trong bình bát, và để trong nhà ăn. Vì vậy tôi không thể không đi ăn. Tôi đón nhận tình thương và sự chăm sóc của các em, để nuôi thân tôi và vun trồng lòng biết ơn trong tôi. Cho dù có lúc tôi quá nghiêm hay thiếu ái ngữ, các chị các em của tôi vẫn nhìn tôi với đôi mắt tươi sáng và hiến tặng tôi những nụ cười hoan hỷ. Một hôm, sư em Đồng Thắng nói với tôi, ''Bộ sư chị không ăn trưa hả? Tụi em thấy sư chị vắng mặt trong hai bữa cơm quả đường rồi đó!'' Tôi giựt mình khi thấy rằng ngay cả các thầy và các sư em trai cũng quan tâm đến sự có mặt của tôi! (tôi cũng đã định trốn buổi cơm quả đường hôm đó, nhưng nghe vậy nên không dám trốn nữa). Cũng có những lúc ban tỳ kheo ni họp 3 lần một ngày trong mấy ngày liên tục. Các em phản ánh rằng các em cảm thấy năng lượng của đại chúng đi xuống khi các sư chị lớn vắng mặt nhiều trong những buổi ngồi thiền tụng kinh hoặc trong những buổi sinh hoạt khác. Khi mới nghe thì tôi nghĩ, Đại chúng vẫn còn hơn 150 người, tại sao năng lượng lại đi xuống? Nhưng một hôm khi bước vào thiền đường và thấy nửa hàng đầu của hai phía đều không có người ngồi, tôi cảm nhận thấm thía được cảm giác trống vắng ấy. Các em vẫn còn nhỏ, và rất cần sự có mặt của các sư chị. Với ý thức ấy, chị em chúng tôi đã cố gắng hạn chế việc mất những buổi ngồi thiền. Dù có mệt mỏi gì đi nữa, chúng tôi vẫn tham dự những buổi thuyết trình và chia sẻ của các em. Thật ra chị em chúng tôi ai cũng cảm thấy thích thú và được nuôi dưỡng khi lắng nghe các em, vì các em có những cái thấy rất sâu sắc và diễn đạt một cách chân thành, mộc mạc, dễ thương.

Có lần Thầy nói với tôi, ''Cái vấn đề không phải là mình thích hay không thích'' Tuy tôi chưa hiểu (chưa chấp nhận?) điều đó, tôi vẫn ghi nhận lời Thầy dạy. Với thời gian tu tập, tôi thấy rằng cái ''thích'' hay ''không thích,'' cũng như cái ''muốn'' hay ''không muốn'' của tôi có thể chỉ là những hiện tượng bề mặt, và động cơ thúc đẩy nó chính là những tập khí sâu dày và những tri giác móp méo của tôi. ''Thích/muốn'' thì có mặt, đeo đuổi, bám sát. ''Không thích/không muốn'' thì vắng mặt, chối từ, bỏ mặt. Khi tâm bất an thì mình cũng không ''thích'' chính mình, và mình cũng bỏ rơi chính mình luôn, huống hồ gì người thương của mình. Chiếu dụng ý thức sáng tỏ vào những tâm hành này giúp mình tập chọn lựa, không nói và hành xử trên bình diện ''thích/không thích'' hoặc ''muốn/không muốn.'' Đi theo thời khóa tu học của đại chúng là một pháp môn hữu hiệu giúp người tu bình thường cái tâm của mình. Có những sư em của tôi khi có nỗi buồn trong lòng thường hay cáo bệnh, nằm dài trên giường thay vì đi ngồi thiền và tham dự những sinh hoạt khác của chúng. Khi thân và tâm khỏe mạnh, việc sinh hoạt với chúng xảy ra một cách tự nhiên. Nhưng khi thân bệnh và nhất là khi tâm có khổ đau, đi ra với chúng trở thành cả một vấn đề. Mình không muốn tiếp xúc với ai hết, và nhìn vào mắt của chị em cũng thấy khó. Tôi khuyến khích các chị em của tôi rằng trong những lúc khó khăn ấy, mình càng nên theo sát thời khóa của Đại chúng, Để thực tập có một cho chính mình và cho đại chúng. Khi tôi tập có mặt như vậy, tôi có cơ hội thấy và khám phá nhiều điều về anh chị em của tôi, và những cái đó có công năng nuôi dưỡng tình thương và phá vỡ được những mặc cảm hơn kém bằng và những khối nội kết trong tôi.

Tháng 3 vừa qua, 100 vị xuất gia của xóm Rừng Phương Bối và Bếp Lửa Hồng đã vô Huế 10 ngày để dự kỵ của Sư Cố Thanh Quý. Sau khi trở lại Bát Nhã được 2 ngày, 100 vị (một số được luân phiên) vào Sài Gòn để hướng dẫn khóa tu một tuần ở chùa Pháp Vân. Hai chuyến ''ra quân'' đầu năm của Bát Nhã đã thành công một cách tốt đẹp. Nhiều vị tôn túc, nhiều vị xuất gia và Phật tử tại gia đã yểm trợ và bảo bọc chúng tôi, khen rằng tăng thân có chất liệu trong sự tu học, có sự hòa hợp, và làm việc hết lòng. Trong hai chuyến đi đó, dù thầy và sư chú là ''Pháp'' hay ''không phải Pháp,'' dù sư cô là ''Nghiêm'' hay ''không phải Nghiêm,'' anh chị em chúng tôi đã chung sức cống hiến năng lượng tu tập và sự tươi mát của mình cho chùa Tổ. Trong khóa tu ở Pháp Vân, tùy theo khả năng của mỗi người, chúng tôi đã cùng nhau làm từ A đến Z: từ việc cho pháp thoại mỗi ngày 2 lần, đến việc nấu ăn, quét sân, dọn phòng vệ sinh, hành đường, tri khách, vân vân. Năng lượng trong sáng và tích cực của các sư em trẻ đã giúp giải tỏa được phần nào những vụng về gây ra trong quá khứ và hàn gắn lại tình huynh đệ giữa Pháp Vân và Bát Nhã. Chúng tôi đã được quý thầy chùa Pháp Vân nâng đỡ trong mọi mặt, và từ khóa tu gạch nối này, tăng thân Pháp Vân và Bát Nhã sẽ tiếp tục hợp tác để tổ chức khóa tu một tuần mỗi ba tháng.

Trong một buổi vấn đáp cho người trẻ ở Pháp Vân, sư em Pháp Võng đã chia sẻ, ''Nếu con không đi tu, chắc con đã lấy vợ và bị vợ quýnh quá!...Con thấy thật mầu nhiệm: Sư Ông về có 3 tháng, mà hơn 300 người đi tu và không phải bị vợ quýnh, chồng quýnh.'' Mọi người trong thính chúng cười no ruột. Nhìn ra ''cánh gà,'' tôi thấy đội nấu ăn đang ngồi một hàng dài để nghe ké. Tôi nghe kể lại hôm đó đội thầy Pháp Bảo nấu ăn; các thầy và các sư em thay phiên nhau vô bếp canh nồi cháo, mỗi người 10 phút, vì ai cũng muốn được lắng nghe anh chị em của mình... Tuy phần đông chúng tôi chưa từng lập gia đình, nhưng chúng tôi cũng đã từng bị ''quýnh'' bởi gia đình huyết thống, bởi gia đình tâm linh, hoặc bởi xã hội. Nhưng người quýnh chúng tôi đau nhất và dai dẳng nhất vẫn chính là chúng tôi. Chúng tôi đã từng tham đắm và ruồng bỏ chính mình. Tập khí nắm bắt và trốn chạy khổ đau cùng với hạt giống ma đói đã và vẫn còn đang sai sử nhiều người trong chúng tôi.
Xin tri ân bao người, đã và đang trực tiếp học gián tiếp, công khai hoặc thầm lặng yểm trợ những trung tâm tu tập như Tu viện Bát Nhã và Từ Hiếu, để những người trẻ như chúng tôi có cơ hội được trở về, học dựng lại và chuyển hóa những tập khí và khổ đau của mình, cùng nhau góp phần giúp nước độ đời.

Trước khi tôi về lại Bát Nhã, nhiều sư anh, sư chị và sư em đã đến tâm sự và chia tay riêng với tôi. Tôi đã tha thiết khẩn cầu, Xin hãy ở lại với tăng thân. Đừng làm những quyết định nhất thời mà rời bỏ tăng thân. Tăng thân của mình không hoàn hảo, nhưng có sự tu tập thật sự. Xin tinh tấn nương vào những pháp môn để chuyển hóa và trị liệu chính mình. Xin góp tay nuôi dưỡng tăng thân, mở đường cho nh?ng người còn đang chưa thấy hướng đi.

Nếu mỗi người trong chúng ta không làm việc đó, ai sẽ làm?

Tái Bút: Những cô chú và anh chị em muốn bảo trợ cho 1 (hoặc hơn 1) thầy/sư cô ở Bát Nhã (25 đô/tháng/người), xin liên lạc tu viện Bát Nhã trực tiếp, hoặc liên lạc tu viện Lộc Uyển (ở Mỹ) và Làng Mai (ở Pháp). Qúy vị cũng có thể giúp tu viện trong vô số khía cạnh khác, từ việc mua sắm thức ăn, giường chiếu, thuốc men đến việc xây cất thêm nhà ăn, thiền đường, và phòng sinh hoạt cho các thầy và các sư cô.... Xin thành kính tri ân.

Đẳng Nghiêm
Tháng 4, 2006