Tu Viện Lộc Uyển
Kính chào quý vị,
Chúng ta đã về, chúng ta đã tới.
Kính xin quý vị
cùng thở sâu và nhẹ.
 

Cánh Cửa Mở

 

''Mầu xanh lấy từ chàm mà xanh hơn chàm, băng được làm từ nước mà lạnh hơn nước''. Ấy là câu nói của những vị thầyÁ xưa nói với học trò mình, với ước vọng là học trò mình sẽ rất giỏi. Tôi cũng mượn lời nói này để vào chuyện nhưng không nghĩ rằng mình đủ tư cách vị thầy như người xưa để trông đợi , mong muốn, ký thác tấm lòng đến tăng ni sinh đã từng học với tôi. Chắc chi mình đã là chàm, là nước đâu mà mong tinh luyện được mầu xanh, đúc nên những thỏi băng? Tôi không tự khiêm. Đây là lời nói chân thật khi nhìn kỹ lại khả năng, nhiệt tình và sự đóng của tôi khi phụ trách môn lịch sử Phật giáo những năm qua. Ở trang viết này tôi chỉ muốn chia sẻ những tâm tình, niềm vui, nỗi ưu tư của tự thân khi nhìn thấy khả năng học tập và lòng thương đạo của Tăng ni sinh các khóa.

Tăng ni sinh đã đến với trường bằng tâm hồn trong veo, thơm phức mùi áo nâu, áo lam truyền thống. Với trang sách lòng mầu trắng trinh nguyên. Các Thầy giáo thọ đã viết vào đó chữ tâm, chữ trí, chữ dũng, chữ từ bi. Tất nhiên bên cạnh những chữ son thắm đẫm đạo tình ấy Tôi đã chen vào một chữ lịch sử nằm khiêm tố n phía sau. Các cô chú đã chịu khó và rất dễ thương khi tiếp nhận môn học khô khan này. Đôi khi tôi tự hỏi: '' Các em thích môn sử hay thấy tội nghiệp ông thầy mà ngồi học nghiêm túc thế''. Rõ ràng là cách thế triển khai môn sử của tôi không đóng góp gì nhiều cho trí thức của các cô chú; bởi chính khả năng hạn chế của mình, và nhiều vần đề hạn chế chung quanh. Đã vậy tôi còn thỉnh thoảng bỏ khóa rong chơi biền biệt. Tuy nhiên Thầy trò ta cũng có những buổi học khá vui, chia sẻ hết lòng, nhất là cùng công nhận rằng, Lịch sử- hay hẹp hơn là Lịch sử Phật giáo- là môn học cực quan trọng và vẫn mãi là trang sách mở. Điều ấy, không phải vì loài người còn đó và không dừng đi về hướng tương lai nên trang sử không thể khép, mà còn vì trí thức và tư duy con người càng phát triển, càng nhìn ra để đánh giá lịch sử khách quan và trung thực hơn. Cộng với những liên hệ của hai mặt nhân văn và khoa học xã hội được soi sáng bằng các khảo nghiệm khoa học đa ngành nên môn học này mãi mãi là cánh cửa mở.

Chúng ta biết rằng: Không hề có sự phát triển của xã hội nào mà thiếu đặc tính kế thừa. Thuở văn minh con người chưa được văn bản hoá thì tính kế thừa được biểu hiện bằng phương pháp truyền miệng và học thuộc lòng. Khi văn tự xuất hiện thì văn minh con người được đẩy lên nhanh hơn, cao hơn do đặc tính kế thừa được bảo đảm chặt chẽ hơn. Và tính chất vận hành, đào thải, sàng lọc, kế thừa để tồn tại và phát triển là đặc tính là đặc tính tất yếu của mọi nền văn minh xã hội.

Do vậy, người ta có thể nhìn sâu vào dòng vận hành của lịch sử, những tác động nhiều chiều của lòng người, của thiên nhiên, xã hội, tôn giáo... từ quá khứ đến hiện tại để chắt lọc ra kinh ngiệm sống còn, và cách thế hành sử cho một quốc gia, một tôn giáo, một ý hệ, hay hẹp hơn nữa là một kiếp nhân sinh ngắn ngủi ở trần gian. Thế nên học từ quá khứ để soi sáng hiện tại và định hướng tương lai không chỉ quan trọng cho xã hội, mà còn quan trọng hơn nữa cho những người tu Phật. Nhìn đặc tính văn hóa của một xã hội hiện tại có thể thấy được tính tiêu cực và tích cực của những đóng góp cha ông họ ngày trước và những phá hoại của họ hôm nay ra sao. Cũng bằng cách ấy, nhìn cách thế đóng góp của ta hiện tại vào gia tài văn hiến cha ông ta, thì có thể biết được người sau sẽ coi ta là gì đối với họ. Từ tư duy này quy chiếu lại môn lịch sử của ngành giáo dục quốc gia hay của riêng đạo Phật để thấy trách nhiệm của mình, biết mình đang làm gì, và mình sẽ đóng góp gì cho đất nước và đạo Phật tương lai.

Tôn giáo, cố nhiên là nhu cầu tất yếu của loài người, nó phát triển từ xã hội và ảnh hưởng trực tiếp đến xã hội. Đạo Phật có mặt tại Việt nam hay bất cứ ở đất nước nào cũng cùng một nguyên tắc ấy. Bài học lịch sử về tôn giáo dĩ nhiên gắn liền với bài học lịch sử quốc gia. Tuy nhiên, giá trị của đạo Phật khác biệt với các tôn giáo và ý hệ quá khứ hoặc đương thời ở chỗ đạo Phật đã xây dựng và làm nền tảng cho nền văn hóa Đại Việt. Và đã chung chịu bao cuộc phân kỳ, vinh nhục của lịch sử Việt nam. Trong quá khứ trang sử vàng thời Đinh, Lê, Lý, Trần đã đưọc đạo Phật xây dựng nên, dấu ấn của thiền tăng và tín đồ Phật giáo còn in đậm trên nhiều mặt nhân văn xã hội. Cho dù hoàn cảnh đất nước biến thiên, con người nhiều định kiến, vận dụng tư biện đầy ác ý cũng không thể phủ bác sự thật lịch sử và năng lực đóng góp của Phật giáo đồ. Điều này rất dễ thấy khi chúng ta làm một thử nghiệm: Loại đi tất cả những thi ca văn học dính dáng với đạo Phật; lúc ấy dòng văn học ''thơ văn Lý- Trần'' chẳng những không còn, mà văn hiến mấy ngàn năm Đại việt cũng không biết tựa vào đâu để tự hào nữa. Tất nhiên sự đóng góp của đạo Phật còn trải rộng ra ở các công trình văn hóa khác. Nhất là bằng tinh thần vô ngã- từ bi- trái tim của giáo lý đạo Phật- đã đúc nên tố chất tâm hồn đặc thù cho dân tộc Việt. Nhờ đấy qua bao nhiêu vùi dập kinh hồn của nhiều thế lực ngoại nhân hủy diệt, đất nước này vẫn tồn tại đến hôm nay. Nói thế không phải là những đóng góp của đạo Phật vắng mặt yếu tố tiêu cực, do ảnh hưởng của 1000 năm bắc thuộc tạo thành. Bằng chứng là cho đến hiện nay hình thái sinh hoạt của đạo Phật, nội dung tư tưởng và định hướng giáo dục vẫn chưa hoàn toàn thể hiện được sắc thái riêng biệt của Phật giáo Việt nam. Thế nên, đi vào môn lịch sử Phật giáo, đọc rộng các văn bản liên hệ đến lịch sử quá khứ, hiện tại để đối chiếu, nhận thức những tác động nhân quả hỗ tương, những đánh phá bức hại của các ý hệ và ngoại giáo. Nhất là phải tu học thật sự để có được tuệ giác thật sự. Rồi từ đấy hình thành một định hướng học Phật và tu Phật hầu loại trừ những yếu tố nô dịch văn hóa còn tồn tại như một tế bào ung thư trong cơ thể đạo Phật- cũng có nghĩa là trong cơ thể văn hóa Việt- là điều cần thiết đang trông đợi vào lớp người xuất gia trẻ hôm nay. Có lẽ không đóng góp nào cho cuộc đời sâu sắc và lớn lao bằng đóng góp để chuyển vận bánh xe văn hóa độc lập làm nền móng xây dựng một xã hội nhân văn. Tôi nghĩ, thế đứng của đạo Phật chỉ nằm trong lĩnh vực văn hóa, và với đà phát triển của các trường phài tôn giáo, ý hệ xã hội, các hiện tượng tâm thức khủng hoảng, bất an, bạo động của cá nhân và tập thể trên hành tinh này thì đạo Phật càng chứng minh tuệ giác của truyền thống mình bằng sự đóng góp văn hóa do Tăng sĩ thể hiện. Cố nhiên trong lĩnh vực này định vị lại môn lịch sử và nghiêm túc học tập môn lịch sử là điều cực kỳ quan trọng.

Chúng ta nhớ lại các bậc tổ sư sinh ra từ đất nước này, hoặc từ phương tây, phương bắc sang đây, họ chưa làm việc gì khác ngoài việc xây dựng Tăng, tạo tự và truyền bá Phật pháp. Trước đó các vị đã tự tạo cho mình một nội lực hùng tráng bằng công phu hàm dưỡng của sự tu học niệm định thuần tịnh và tuệ giác tỏa sáng. Có thế mới lưu được hương thơm như tổ Tăng Hội, du hành về phương Bắc giáo hóa sĩ phu Kiến nghiệp đặt nền móng phát triển cho Phật giáo vùng Giang tả- Trung Hoa.

Thiền sư Vạn Hạnh chống tích trượng xác lập cơ đồ văn hiến nghìn năm cho đất Thăng Long Đại Việt. Điều Ngự Giác Hoàng gậy trúc trên tay Nam hòa Chiêm, Bắc bình Thát đát. Quốc sư Phù Vân một câu nói dựng nên hùng khí và nét đẹp nhân văn cho cả triều Trần. Một đất nước bé nhỏ ngày xưa, cư dân chẳng đáng chi so với 70 triệu dân Việt nam hiện tại, thế chỉ có con đường tu học và ứng xử bằng nội dung tinh thần Phật giáo vô ngã- Đại bi của một nhóm người lèo lái quốc gia đã dựng dậy được hùng khí ngang tàng đầy tự hào cho một đất nước. Họ đã ngẩng cao đầu chỉ kiếm về phương bắc, xác định địa vực '' Nam quốc sơn hà Nam đế cư ''. Viết dòng thơ '' Thành đạo ca'' khi vui thú bên dòng suối Yên tử, ấn con dấu tự tin cho dòng văn học chữ Nôm. Và không hề tự ti khi gọi mình là Giác hoàng Điều Ngự. Chúng ta có quá đáng không khi nói chỉ vài con người bé nhỏ kia đã xoay được bánh xe văn hóa, để hình thành lịch sử Đại Việt? Hẳn là không. Vì bao giờ cũng thế, hơi thở vô hình nhẹ bổng và bồng tênh mà làm cho con người sống để dời sông lấp biển. Văn hóa đạo đức của một tôn giáo dân tộc tuy trừu tượng vô hình nhưng làm nên sự sống còn và hùng khí của một quốc gia. Trường giang có thể dài ngàn dặm, nhưng khởi nguồn bao giờ cũng là mạch nước nhỏ tí tách trong khe. Vận mệnh một quốc gia tuy gọi là lớn nhưng nghiệm kỹ sẽ thấy được bắt đầu từ một nguyên nhân rất nhỏ. Thế nên, đặc tính và phẩm chất tu học của những người trẻ hôm nay ai dám nói là không thành dòng văn hóa Đạo đức cuồn cuộn chảy.

Dòng sông chảy, bánh xe lăn là lẽ tất nhiên. Nhưng người trí có thể nắn được dòng và lái bánh xe vào định hướng. Đạo Phật đang phát triển thật sự, hay chỉ là những lớp sơn hào nhoáng tô lên mảng vách nhà cũ mục bao đời. Điều này chỉ có đệ tử đức Điều Ngự biết rõ hơn ai hết. Lịch sử ghi nhận, có những thời Phật giáo được các vị vua quan ưu đãi, tự viện được xây dựng lộng lẫy nguy nga, chư Tăng được mọi giới xã hội cung phụng và nuông chiều, và môn đồ của đấng Đạo sư chen nhau vào tháp ngà học thuật. Ấy là điềm triệu Đạo Phật sẽ diệt vong liền sau đó. Có khi không cần nhìn lịch sử, hay nhìn ra ngoài để thấy gì và để thấy ai, mà chỉ cần nhìn lại cái tâm, cái học, cái tu của chính tự thân của mỗi Tăng -Ni sinh trẻ là đủ đánh giá sự mất còn của Đạo Phật hiện tại và tương lai. Sự mất còn của Đạo Phật là sự mất còn của ''văn hóa nền'' đạo đức xã hội. Nên vấn đề thực chất tu học của Tăng- Ni sinh trẻ là vấn đề chung cho mọi người yêu mến văn hóa dân tộc, và có trách nhiệm với sự còn mất của dân tộc.

Chúng ta hiểu rằng, dòng chảy dừng thì không còn sự sống, bánh xe đứng chỉ có ở những chiếc xe trưng bày trong viện bảo tàng. Văn hóa và lịch sử là dòng chảy, là bánh xe lăn. Và đông tây kim cổ chưa hề có lịch sử một quốc gia nào đứng yên một chỗ. Đạo Phật với những trang sử vàng quá khứ, dù đáng tự hào cũng đã đi qua. Tuy nhiên ai ngăn được lớp Tăng- Ni trẻ hôm nay viết tiếp lịch sử Đạo Phật bằng năng lực tu học hùng tráng của mình. Chỉ bằng công phu niệm, định để thành tựu tuệ giác thì lớp người trẻ sẽ rọi sáng được đường mình đi và sẽ có khả năng vận chuyển được bánh xe văn hóa, bánh xe chánh pháp. Cánh cửa Đạo Phật, cánh cửa văn hoá muôn đời vẫn mở ra đấy chờ những nguời con của đấng Đạo Sư đi vào làm nên kỳ tích. Xin cho chúng tôi - người của thế hệ luống qua - gửi trọn vẹn niềm tin và sự quý trọng đến Tăng - Ni sinh trẻ hôm nay và ngày mai.

Tu viện Lộc Uyển, ngày 9 tháng 10 . 2002.
Phước Tịnh