Thầy đã đi xuất gia vào giữa năm 1967, tại chùa Thành Hoa, làng Tấn Mỹ, quận Chợ Mới, tỉnh Long Xuyên. Pháp hiệu Giác Thanh được thầy bổn sư là Hòa Thượng Phổ Huệ đặt cho từ lúc ấy. Thầy đã ở chùa Giác Duyên (quận IV Sài Gòn) vào năm 1968, dời về chùa Xá Lợi năm 1969, thọ đại giới tại Tổ đình Giác Viên vào sau mùa Vu Lan 1970 và đã vào đại học Vạn Hạnh năm 1971. Rồi cơ duyên khai mở ban đầu đã đến khi Thầy bắt gặp quyển 'Thanh Quy' đầu tiên của tu viện Chân Không và đã chính thức nhập khóa II của tu viện.
Vào thượng tuần tháng 7 năm 1981, Thầy đã vượt biển sang trại Song La và ở lại đó cho đến đầu năm 1982 thì được Hòa Thượng Thích Mãn Giác, hội chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam bảo lãnh sang Hoa Kỳ. Đặt chân lên Mỹ quốc lần đầu tiên có được $300, Thầy đi chợ mua trà và trà cụ về, rồi tự tay nấu nước pha trà dâng lên cúng dường Ôn. Ôi! Của không chi đáng, chỉ một chung trà nóng có nghĩa gì đâu? Nhưng đẹp làm sao việc này, nó gói được tấm lòng biết ơn sâu sắc của người con trai mòn gót phiêu linh. Ôn đã làm bóng mát, làm bến đổ để thuyền đời Thầy Giác Thanh dừng lại. Dù thời gian lưu lại chùa Phật Giáo Việt Nam không lâu nhưng năng lượng thương yêu như mẹ hiền của Ôn đã hàn vá được những vết hằn ngao ngán trong lòng người lãng tử. Cuối mùa Xuân năm 1982, nghe lời Ôn dạy, Thầy đã về tu tập với Thầy Trí Tuệ tại Nam Tuyền. Trong thời gian này, Thầy cũng tìm đến tu tập với các truyền thống Nhật Bản và Đại Hàn.
Cuối mùa Hè năm 1986, Thầy gặp Sư Ông Làng Mai qua Bắc Mỹ mở khóa quán niệm cho thiền sinh Hoa Kỳ. Thấy Thầy mõi mệt công phu để tác thành định huệ lực, Sư Ông bảo: 'Thầy Giác Thanh à! Thầy hãy bỏ hết chuyện công phu nặng nhọc ấy đi. Hãy đi dạo với tôi. Thầy nhìn kìa! Lá phong mùa này đang chuyển từ màu vàng sang màu đỏ, đẹp vô cùng. Sự sống là như vậy, mầu nhiệm như vậy, nó chưa từng sinh và chưa từng diệt. Hãy nhìn và tiếp nhận sự sống như chính nó đi!' Lời khai thị ấy như giọt nước làm tràn ly đầy, như tiếng sét xé tan màn mây lộ ra khung trời trong bát ngát. Từ đó Thầy dừng lại cuộc kiếm tìm qua cách thế dụng công. Vào năm 1990, Thầy về hẵn bên Làng Mai sống hạnh phúc bên cạnh cây lão sồi, làm cây sồi anh che chắn gió mưa cho các cây sồi em thêm bụ bẫm. Mùa Hè năm 1992, Thầy được truyền đăng làm giáo thọ. Đây là pháp kệ Sư Ông Làng Mai đã trao cho Thầy trong lễ Truyền Đăng:
Giác tánh nguyên thường tánh
Thanh âm diễn Diệu Âm
Biển Tỳ Lô trăng sáng
Sóng nhạc vẫn trầm hùng.
Sư Ông đã cất cho Thầy chiếc thất gỗ xinh xắn, Phù Vân Cốc, bên bìa rừng gần Thất Ngồi Yên của Sư Ông. Thất của Thầy quanh năm rộn rã tiếng chim và đong đưa sắc hoa bìm tim tím. Mùa thu năm 1995, Thầy rời Làng Mai về lại Nữu Ước hướng dẫn khóa tu cho các tăng thân đã từng được Thầy hướng dẫn trước kia. Cũng năm này, cơn bệnh phổi, gan và tiểu đường tiềm phục lâu nay bắt đầu phát tác. Thầy đã dùng hơi thở mình ôm ấp và làm dịu đi cơn bệnh. Có thể nói không sợ sai lầm rằng, trên bước đường hoằng pháp, Thầy đi đến các nơi như Pháp, Úc, Canada..., mở các khóa tu, hướng dẫn thiền sinh thành lập các tăng thân từ năm 1992 đến 1995 cho đến khi về trú tại tu viện Rừng Phong năm 1998, rồi về tu viện Lộc Uyển năm 2000, nơi nào có bước chân Thầy đi qua, thiền sinh đều cảm nhận được năng lượng ngọt ngào, tươi mát, an lạc, thảnh thơi của Thầy tỏa ra, và họ đã dành cho Thầy tất cả niềm thương yêu và kính trọng.
Thầy đã về trụ trì tu viện Lộc Uyển vào đầu mùa Hè năm 2000 rồi ra đi vào mùa thu năm 2001. Ngày tháng lưu ngụ nơi nầy thật ngắn so với tuổi thọ trung bình của một đời người, và phù du biết mấy khi so với tuổi thọ của trăng sao. Thế nhưng điều Thầy đã làm được lớn vô vàn, và đã đi vào bao nhiêu tấm lòng của người ở lại. Một giọng nói hiền, chậm, đầy thương yêu, một nụ cười an lạc cho đến phút giây cuối cùng, một cái nhìn sắc bén trí tuệ thẩm sâu và mênh mông từ ái, những bước chân an bình biểu đạt nội tâm 'đã về, đã tới.' Đó là món quà lớn lao nhất tặng lại cho các sư em và cho cả các tăng thân có mặt nhiều nơi trên thế giới. Cuộc đời Thầy như đóa quỳnh tinh khiết nở trong đêm. Tập thơ của Thầy có khoảng 45 bài đã được in ra và được những bạn bè thân thương gìn giữ. Trong ấy những bài thơ đầu khói sương lãng đãng, nhưng các bài thơ cuối lung linh trí tuệ, mở ra khung trời tâm lồng lộng.
Phút cận tử, mắt nhắm nghiền tưởng chìm vào cõi vĩnh hằng, ấy thế mà khi nghe pháp ngữ Sư Ông Làng Mai từ Bắc Kinh gọi về và khai thị, Thầy đã mỉm cười, mặt tươi hồng và mở mắt ra, thần thái tinh anh rạng rỡ. Đây là bài pháp kệ Sư Ông tặng Thầy:
Trượng phu tiếng đã biết
Việc đáng làm đã làm
Tháp vừa dựng sườn núi
Tiếng cười trẻ đã vang.
Ngoài ra Sư Ông còn làm hai câu đối tặng Thầy:
Một lá ngô đồng rơi, người vẫn cùng ta leo đồi thế kỷ,
Ngàn hoa thủy tiên hé, đất cứ theo trời hát khúc vô sinh. |
|