Pháp Thoại Thượng tọa Thích Phước Tịnh
Phiên tả: TÂM THÀNH TÍN
(Tưởng niệm Thầy Giác Thanh năm 2004)
Hôm nay là ngày 31 tháng 10 năm 2004. Chúng ta đang có mặt tại thiền đường lớn của Tu Viện Lộc Uyển.
Chủ đề của buổi pháp thoại hôm nay được quý Thầy giới thiệu trên trang nhà Lộc uyển đã lâu: đó là TRẠM NHIÊN VÀ CUỘC LỮ. Từ này có gốc rễ ở văn học đại thừa, tức là từ kinh Thủ Lăng Nghiêm. Nhân duyên xuất phát của từ này là do ngài Anan, sau khi thể ngộ được những điều Đức Phật dạy về tự tâm thanh tịnh và không sinh không diệt của chính mình, ngài rất cảm động quỳ xuống đảnh lễ Đức Thế Tôn, tán dương Đức Thế Tôn qua những lời kệ:
Diệu trạm tổng trì bất động tôn,
Thủ Lăng Nghiêm Vương thế hi hữu,
Tiêu ngã ức kiếp điên đảo tưởng,
Bất lịch tăng kỳ hoạch pháp thân.
Có nghĩa: Đức Thế Tôn là bực mầu nhiệm tuyệt vời, bất động và Tổng trì, pháp môn Ngài dạy là Thủ Lăng Nghiêm đại định đã làm cho con thể nghiệm được bản chất của con vốn không sinh không diệt, và chỉ trong một sát na diệt sạch được nghiệp chướng, phiền não của hà sa kiếp và ngay tức khắc chứng được pháp thân Phật.
Từ Trạm Nhiên còn là tên hiệu của Thầy Giác Thanh. Một số thiền sinh quen biết Thầy đã từng nghe các tên như Thầy Ẩn không, Thầy Hoa Quỳnh, Chân Giác Thanh, và còn có một tên ít ai biết đó là Nguyễn Hoài Hương, tức chàng trai họ Nguyễn yêu quê hương, thương quê hương. Từ những ngày đầu của tuổi thanh xuân, tấm lòng yêu quê hương của Thầy đã thiết tha, thể hiện trong bài thơ đầu đời viết vào khoảng 20 tuổi:
“Quê hương ơi, có những đêm dài lặng lẽ
Ta nằm đổ lệ khóc thương mi
Quê hương ơi, người có tội tình chi
Để lũ quỷ đem mi ra dày xéo
..............”
Tôi xin gợi ý một chút về cái tên ấy để biết rằng có những người rất yêu quê hương dù có bị quê hương phụ phàng họ. Nói rộng ra thì cộng đồng người Việt nơi đây cũng có chung tâm trạng như thế. Quý vị cũng có thể cảm nhận điều này, nếu đã từng đi ngang qua một cuộc tình lớn, giống như những người si tình bị tình phụ mà vẫn cứ yêu. Những bài thơ đầu đời của Thầy cũng nói lên được điều nầy. Lòng yêu quê hương của Thầy rất lớn. Có lần được xem tấm ảnh Thầy Giác thanh chụp chung với một người bạn.Thuở còn là học sinh của trường Nguyễn Trung Trực. Rạch Giá. Tôi không hiểu được ý nghĩa của bức ảnh ; về sau hỏi lại bạn của Thầy đang ở Mỹ thì được biết đó là hình chụp kỷ niệm trước khi Thầy chặt bàn tay để biểu tình phản đối cuộc chiến ở Việt Nam, chống chế độ chính trị lúc bấy giờ đang hủy diệt rất nhiều thanh niên trẻ tuổi, trong đó có các bạn hữu của Thầy ở bên này hoặc bên kia chiến tuyến. Thầy Giác Thanh đã sống trong thời điểm chiến tranh khốc liệt, chứng kiến nỗi đau thương mất mát rất lớn cuả cuộc chiến Việt nam. Khi đặt bàn tay lên ngực chụp hình, Thầy muốn để lại bức ảnh: “đây là bàn tay đã từng có cuả ta”. Thầy quyết định chặt bàn tay trái vì nghĩ, kẻ sĩ chỉ cần bàn tay mặt để làm việc, viết lách v.v… Sau đó, Thầy dùng búa chặt tay.May thay chiếc buá quá lụt nên bàn tay trái vẫn còn dù Thầy đã có gan chặt vài búa nhân những ngày trường bãi khóa chống chiến tranh. Sau khi cuộc chống đối của các học sinh trường Nguyễn Trung Trực qua đi, Thầy phải rời nhà đến một nơi xa và dấn thân vào con đường mới và đời sống mới.
Những chia xẻ trên để quý vị thấy nơi một người thanh niên hiền hậu, dễ thương, đã tiềm ẩn bên trong một bản chất thương yêu nồng nàn và cũng rất quật cường, gan dạ.Trên đường tu cũng thế, Thầy đã thể hiện lòng thương đạo và sự can trường chịu đựng trong những tháng năm tu.Dĩ nhiên, Lữ hành là cái gì có bản chất từ trong con người của Thầy,cũng là cuả tất cả chúng ta. Trong văn học, họ gọi là cuộc lữ, tức những cuộc rong chơi, ra đi viễn du của một đời người. Viễn du gần là bỏ quê hương này đến quê hương khác, viễn du xa là bỏ hình hài này chọn hình hài khác. Nói chung đời người đều giống nhau ở chỗ từ hạt bụi lao xao trong cõi tinh hà, rồi đến và đi qua ba cõi sáu đường của kiếp tử sinh lồng lộng, mà vẫn chưa biết chán. Thầy Giác Thanh cũng có đời sống của một lữ khách rong chơi như áng mây nổi. Trong những tên Thầy tự đặt có một cái tên giống như bản chất của Thầy; đó là cái tên Phù Vân: Phù Vân Am, Phù Vân Cốc, Phù Vân Tiên Sinh v.v…Trong những bài thơ của Thầy, ta bắt gặp nhiều từ chỉ thân phận người khách lữ hành rong chơi. Có một lần lúc học năm thứ hai cử nhân Đại Học Vạn Hạnh, Thầy khoe với tôi là đã viết một luận đề rất tuyệt vời; Giáo sư bộ môn Triết đông đã ra một luận đề trích từ hai câu thơ của Lý Bạch trong bài TƯƠNG TIẾN TỬU :
Thiên địa giả vạn loại chi nghịch lữ
Quang âm giả bách đại chi quá khách
(Tức: Đất trời là quán trọ của vạn loài. Mặt trời, mặt trăng là người khách vãng lai trăm đời của thế nhân)
Thầy viết một mạch mười mấy trang giấy, niềm hứng thú thật lớn,về khoe với bạn mà lòng vẫn chưa hết niềm vui.Tất nhiên, trong con người mang tâm hồn lãng du kia, ngoài chất liệu phiêu bạt giang hồ, còn có chất liệu cuồng ngạo và hùng tráng biểu hiện trong cuộc sống và trong thơ.
Đọc thơ Thầy Giác Thanh là cả vấn đề khó khăn, chia xẻ những điều trong bài thơ càng khó khăn hơn, nhiều khi vài câu trong bài thơ lại chứa đựng những điều rất lớn,những cảm giác cô đơn băng giá,những chứng nghiệm niềm vui ngập tràn. Có thời gian thăm thẳm và không gian bát ngát, như bài thơ “MÀU HOA RỤNG”:
Một thuở vào đời
Cười cười khóc khóc,
Một lần trông thấy màu hoa rụng,
Bước lãng du chạm nhẹ đất vô cùng
Rồi dòng đời trôi nổi
Sông kia núi nọ
Hồn mây trắng thật thong dong
Thi ca là cõi lồng lộng phiêu bồng, nó có không gian của riêng nó. Người ta có một câu nói không sai lầm: “thi ca là đỉnh núi giữa bình nguyên ngôn ngữ của con người”.Ngôn ngữ đời thường, thường khi không sâu lắng, ngôn ngữ của thơ thì một lời có khi mang cả tấm lòng, cả không gian bát ngát. Thơ thông thường của thi nhân, họ vận dụng tri thức, tình cảm, xúc động và lý trí dể làm thành; thơ thiền của các bậc Thầy còn đi sâu hơn một tầng nữa, có khi nó biểu đạt được trạng thái liễu ngộ của tâm (từ bình diện của tri thức đời thường bước sang bình diện khác), có khi đôi dòng thơ đã thể hiện được phẩm chất của một người đã dẩm chân được trên vùng đất thật của tự tâm. Thông thường, chúng ta sống trên bình diện ý thức rất nhiều mà chưa hề chạm chân được vào bình diện vô niệm, vô thức. Chỉ lúc nào những suy tư bời bời lắng xuống, lúc bấy giờ không gian của tâm thức rất mênh mông, sáng và tỉnh. Bấy giờ, quá khứ vui buồn không còn đè nặng lên ta, tương lai đầy màu sắc và vũ hội cũng không lôi kéo được ta, ta an tâm nơi phút giây hiện tiền. Trong nhà thiền có một câu: nhất niệm thiên thu, thiên thu nhất niệm(mỗi sát na tâm thức đậu lại nơi đây và giờ phút này). Quý vị sẽ có chút kinh nghiệm khi tâm thức không bị lo buồn, sầu khổ, bất an tràn ngập.Trong một ngày an vui tĩnh tại thì ta sẽ thấy một ngày đi qua rất nhẹ nhàng; ngược lại, khi sầu khổ, bất an hoặc trông đợi thì một ngày sẽ kéo dài ra gấp nhiều lần. Người ta bảo: thương nhau mà một ngày không thấy nhau thì giống như ba năm không thấy nhau (nhất nhật bất kiến như tam thu hề). Do vậy, thời gian vật lý không dính gì đến thời gian tâm lý cả. Thi ca thiền biểu đạt, khi ta tu tập, ta có niềm vui, khi dừng được tâm thức ngay trong sát na hiện tiền và tâm ta an trú vĩnh hằng nơi ấy, lúc bấy giờ một niệm thiên thu và thiên thu là một niệm, gọi là chạm chân vào vùng đất thật của chính mình. Điều này, người xưa đã từng được như thế, và hiện các vị thầy như Thầy Giác Thanh, lời thơ hé ra cánh cửa cho ta thấy Thầy đã từng nếm được hương vị của pháp. Ví dụ như người xưa là Thiền sư Linh Vân trong bài thơ “THẤY HOA ĐÀO”:
Tam thập niên dư tầm kiếm khách
Kỹ hồi lạc diệp kỹ trừu chi
Tự tùng đắc kiến đào hoa hậu
Sanh tử ư kim bất cánh nghi
Tức:”Ba mươi năm nay, ta đi tìm người kiếm khách. Đã bao nhiêu lần lá đổ, bao nhiêu lần cây mọc cành mới, rồi tới một lần thấy được hoa đào nở, thì không còn có một niệm nghi ngờ nào trong tâm thức của ta cả”.
Từ kiếm khách có hàm nghĩa rất dễ thương. Văn học Trung Hoa gọi là Suy Mao Kiếm, một thứ kiếm cực bén, chỉ cần đặt một cọng tóc ở lưỡi kiếm và thổi nhẹ vào thì cọng tóc đứt mất. Trong nhà thiền thì dùng từ này để chỉ đó là trạng thái chánh niệm của tâm. Ba mươi năm tìm cho ra mặt mũi thật của chính mình (gọi là bản lai diện mục,là tâm):Tâm ta, về phần thể, nó vốn yên bình, thanh tịnh, vắng lặng, chiếu sáng; về phần dụng, nó có khả năng khi mời gọi được, sống được, nhận ra được, thì năng lực kỳ diệu của nó có thể cắt đứt tất cả các phiền não, khổ lụy, bất an, tủi nhục của một đời người (cho nên được gọi là kiếm khách). Tự thể tâm của chính mỗi người là một vùng trời rất yên bình, tĩnh lặng .Vùng trời này không hề có những xao động, bất an nào đụng được cả. Cũng như thế, biển khơi mông mênh, sóng nổi ba đào chỉ là bề mặt của biển mà thôi, nhưng tự thân của lòng biển sâu không ẩn dấu cái gì gọi là bất an, sóng gió và đục ngầu cả. Tự tâm của chúng ta cũng như thế, ta có khả năng hồi phục rất tuyệt vời khi mình cho phép mình chìm lặng, lắng yên và tĩnh tại. Quý vị có thể có kinh nghiệm thế này. Khi đời sống quý vị xao động, chạy vạy, mệt nhọc nhiều, tâm thức rối bời, mình có khuynh hướng lui về ngồi yên lặng trong một căn phòng, buông mình xuống và không làm gì cả, thì năng lượng an tĩnh của tâm có cơ hội hồi phục, niềm vui có được khi lặn sâu xuống khỏi bề mặt của ý thức, và khi nếm được hương vị đó thì lòng quý vị sẽ không còn những buồn chán phát sinh. Người ta dễ chán những niềm vui rộn rả mà không ai chán niềm vui của sự yên bình tĩnh lặng cả. Ta đi vào nhiều con đường của thế trần - cuả cải,lợi danh, tiền tài, sắc dục- nhưng không hề có con đường nào trao cho mình một niềm vui trọn vẹn, không hề có con đường nào bên sau đó không là nỗi chán chường cả. Ta chưa tìm về và nhận diện được mình vốn là biển tâm mông mênh sâu lắng, mà chỉ sống trên bề mặt rất cạn của tiếp xúc với sóng gió cuồn cuộn ba đào thì mình vẫn còn là một kẻ mãi rong tìm trong cuộc lữ. Chỉ cần một lần thấy hoa đào nở thì suốt kiếp không còn một niềm nghi ngờ gì, mở mắt ra, nhắm mắt lại đều thấy tâm Phật chính mình, đưa tay chạm bất cứ gì cũng là chạm vào thân Phật. Tức khắc, lúc ấy chúng ta dừng lại kiếp phiêu linh của lữ hành, phẩm chất của hạnh phúc tự nhiên có mặt và suối nguồn yêu thương của tâm tự nhiên tuông chảy rạt rào.
Bây giờ, hãy trở lại bài thơ của “MÀU HOA RỤNG” của Thầy Giác thanh ở trên:
Một thuở vào đời
Cười cười khóc khóc
Chúng ta đều giống như Thầy bước vào cuộc đời bằng nụ cười và tiếng khóc đi đôi, niềm đau và hạnh phúc cùng có mặt. Đó là kiếp nhân sinh. Nhưng chỉ cần:
“một lần trông thấy màu hoa rụng,
bước lãng du chạm nhẹ đất vô cùng”
Cõi vô cùng là cội nguồn nguyên sơ của bản tâm ta, vùng đất không sinh không diệt. Trong những bài thơ hoặc bài pháp, Thầy thường nhắc vài ý thơ trong bài “BỆNH” (sáng tác năm 1996):
“Thịt da rửa mòn xác thân tàn úa
Hồn vẫn vui như những đóa hoa xuân
Sông núi rộng ngại gì thân nhỏ bé
Xin trả về cho trời đất rộng bao la.”
Bằng con mắt bình thường, mình chỉ thấy đây là thân của ta, nhà của ta, chùa của ta; nếu có một tâm hồn lớn hơn, họ thấy ngoài hình hài này, tình thương của họ đến với người chung quanh ,có mặt và tồn tại nơi người chung quanh thật lớn, thì hình hài họ dù có bị suy hao, mòn mỏi cũng không có gì đáng ngại. Nhưng nếu nâng tâm thức mình lên đến tầng cao hơn (thấy mình là sự sống vô hình, có mặt trong không gian, suốt chiều dài của thời gian) thì những tật bệnh của thân không làm đau khổ họ, cái còn hay mất của hình hài không thành nghĩa lý gì cả.
Ta không lường được trình độ thâm ngộ của Thầy Giác Thanh đến mức độ nào, nhưng trong đời sống bình thường, Thầy đã thể hiện nhiều điều rất dễ thương, rất đẹp. Sống trong những ngày cơn bệnh tàn phá thân tâm đến thời kỳ cuối, ấy vậy mà vẫn chưa thấy nét buồn đau, sầu khổ. Thầy vẫn cười nói bình thường, vẫn tham dự các khóa tu ở UCSD,dù phải mang máy lọc thận bên mình rất cực nhọc. Ở Lộc uyển,vào những buổi khuya thăm Thầy ở phòng ngủ, tôi xót xa hỏi Thầy tại sao máu lại chảy đầy các ống dẫn trong máy lọc như vậy. Thầy cười cười nói rất tự nhịên:”Không có gì đâu, máu không ở trong thân thể với mình thì nó đi ra chỗ khác thôi. Ai cũng đến ngày tàn của hình hài, quan trọng là mình sống trọn vẹn tấm lòng và sống từng nhịp sống xứng đáng là đủ”: Mỗi bài thơ của Thầy có chứa không gian, chứa tâm tình và người ta chỉ có thể cảm thơ chứ không thể bình thơ. Tuy nhịên, chúng ta dùng lăng kính của những bài thơ thiền rọi vào chia xẻ vài điều để thấy có những người tuy đời sống thật thầm lặng, khiêm tốn,nhưng vẫn có vài khai mở lớn lao trong những bài thơ. Dĩ nhiên, trong cuộc sống con người, có bình diện cạn (vật lý) và cũng có bình diện thâm sâu (tâm linh). Với Thầy, trong lãnh vực đời thường, Thầy cũng có những bài thơ đánh động tâm thức rất đặc biệt, nét nổi bật là Thầy rất thật, không có màu mè che đậy, giả vờ thánh thiện. Thầy thật giản dị và dễ thương như một lần sau khi Thầy về thăm Việt Nam, tôi hỏi Thầy: “Thầy là người lãng du qua nhiều nơi, tiếp xúc với nhiều người Việt, người Tây phương, và với tâm thức bồng bềnh như Thầy, có thể vào một buổi chiều hiu hắt buồn nào đó, tâm tư Thầy vương vấn một người đẹp tóc vàng mắt xanh không?”. Thầy mĩm cười trả lời: “Đôi khi cũng có. Đôi khi cũng thấy yêu yêu”. Rồi Thầy đọc cho nghe bài thơ “CHẾT” sau đây:
Thơ cũng chết,
Tình muôn năm rồi cũng chết
Khói mây bay mờ mịt một khung trời
Trong cuộc lữ ta có hồi lận đận
Rồi cũng có ngày rủ sạch nợ trần ai
Do giao tình với Thầy từ lúc bé, tôi được biết đời sống tu hành của Thầy rất phạm hạnh, nhưng tâm hồn rất thơ, nên đôi khi Thầy giả vờ thêm chút sắc màu của tình yêu cho có tính lãng mạn của thơ, nhưng tự thân Thầy không hề vướng mắc. Tôi rất thích một bài thơ và thường nằn nì Thầy đọc cho nghe mỗi lần anh em gặp mặt ; đó là bài “MỘNG VÀNG HOA” mang tính chất thật lãng du mà tôi còn nhớ đưọc đôi câu: “Ta lữ khách trong dậm dài cát bụi. Một ngày xa dừng lại cô thôn....” Thầy đã làm bài nầy trong tâm trạng rất thơ, chữ nghĩa cũng rất phiêu bồng và hắt hiu sương khói.
Tóm lại, tôi muốn chia xẻ để gợi lên đôi điều hoài cảm rằng trong con người kia, đời sống tâm linh vào những ngày cuối sắp trả hình hài để trở về với đất, rất kiêu hùng, sâu sắc, thì trước đó lại có những ngày tháng lãng du hệ lụy, đã có lúc lòng man mác buồn nhìn sông nước mông mênh.
Chúng ta đã có dịp nói về những cái tên do Thầy tự đặt cho mình như Hoài Hương, Ẩn Không, Trạm Nhiên. Có nhiều điều rất sâu sắc về những cái tên ấy. Ẩn Không là tên Thầy đặt cho chiếc am lá diện tích vài thước vuông, ở xã Mỹ Luông tỉnh Long Xuyên vào năm 1977 (sau 1975, Thầy rời thiền viện Thường chiếu về cất am tĩnh cư) Ẩn Không Am đơn giản, chỉ gồm có một tọa cụ, bồ đoàn và một chiếc áo tràng mắc trên vách. Đời sống Thầy ở đây khiết bạch như một hiền giả độc cư thiền định thời giáo đoàn nguyên thỉ. Một điều đáng ghi nhớ là một ngày nọ có một số phật tử đến thăm, thấy Thầy nằm thiêm thiếp trên giường, mọi người hoảng hốt nghĩ Thầy đang bệnh.Hỏi, thì Thầy lắc đầu trả lời: “Tôi hết gạo ăn bốn ngày rồi, nên nhịn đói nằm thế thôi”. Thầy có cái can trường là không hề xin xỏ ai, không biết lấy lòng phật tử để được họ chăm sóc và thương mến.
Tên Trạm Nhiên, Thầy tự đặt lúc còn ở Thường Chiếu: Trạm Nhiên là tĩnh lặng, yên bình, bất động và sáng rỡ; nó có hàm nghĩa rất lớn chỉ tự thể tâm của chính mình, lại còn có nghĩa rất thơ. Sau này, khi qua Làng Mai, Thầy lại đặt tên cái thất bé nhỏ bên sườn dồi của Thầy là Phù Vân Am. Cả cuộc đời Thầy như đám mây trắng lửng lơ trôi trên bầu trời, ngao du một chút rồi biến mất trong cõi vô cùng.
Cuối cùng, tôi xin tóm tắt vài điều đáng nhớ về Thầy Giác Thanh:
Thứ nhất, đời sống của Thầy rất thật, rất đẹp và cũng rất hiền
Thứ hai, bên trong, bản chất thật, đẹp và hiền ấy là con người can trường bất khuất, sống cuồng ngạo thẳng lưng giữa thế nhân.
Thứ ba, tấm lòng tôn kính cuả Thầy đối với các bậc Ân sư rất lớn lao và lòng yêu thương của Thầy mênh mông đối với bằng hữu, đối với sư em, sư anh, sư chị.
Trong tập thơ của Thầy, có nhiều bài thơ đã hướng đến Hoà thượng Trúc lâm và Sư Ông Làng mai bằng cả niềm tôn kính vô biên như bậc ân sư lớn đã khai ngộ cho Thầy. Bài THẤU THỊ dâng Sư ông Làng mai,Thầy viết:
Một cái nhìn chớp nhoáng
Xô ngã mấy tường thành
Con cúi đầu tiếp nhận
Đời đời nguyện chẳng quên.
Chúng ta biết bên dưới bức hình của Thầy Giác Thanh hiện thờ tại Tu viện, Sư Ông Làng Mai có lưu thư pháp tặng:
“Trượng phu tiếng đã biết,
Việc đáng làm đã làm.......”
Ngày xưa, các đệ tử của Đức Thế tôn, khi chứng quả A La Hán, thường tuyên bố rất kiêu hùng:
“Sanh đã tận,phạm hạnh đã thành,việc đáng làm đã là.Ta không còn trở lại thân nầy nữa”.
Tức là lúc bấy giờ, các ngài đã bước lên vùng đất chân thật của tự tâm,chứng a la hán quả, các ngài đang trú trong hữu dư y niết bàn, sống trong trạng thái phúc lạc của giải thoát và khi cần thì rũ hình hài thể nhập biển pháp thân.
Ta chưa có tuệ nhãn biết Thầy Giác Thanh đã thể nhập vào bản thể vô cùng hoặc còn sinh trở lại nhân gian hay không. Nhưng theo nguyên tắc và tinh thần của Bồ tát đạo, những bậc tu hành có lòng thương yêu lớn đều phải “lưu hoặc nhuận sanh”, tức giữ lại một chút mê lầm để còn sinh lại nhân gian. Bồ tát, thay vì đoạn tuyệt lậu hoặc để thể nhập niết bàn, thì các ngài giữ lại một chút nghi ngờ, một chút hoặc lậu bé nhỏ để có thể làm sợi dây trở lại hành tinh này độ nhân sinh. Điều này cũng có mặt trong truyền thống Phật Giáo Tây Tạng: vị Đạt Lai Lạt Ma tái sinh 13 lần, những vị khác đang có mặt trong vùng đất này dưới hình hài của em bé Tây Phương. Tôi nghĩ rằng các vị thầy Việt Nam cũng sẽ trở lại vùng đất này như thế. Các dòng chảy của Phật Giáo luôn luân lưu và biến động, mặt trời lặn ở phía tây để mọc ở phía Đông, có thể sự tàn lụi, suy thoái của Phật Giáo vùng Đông phương là điều báo cho ta biết Phật Giáo sẽ hưng thịnh ở vùng đất Tây phương. Dấu ấn của các vị đạo sư giác ngộ đã đặt trên vùng đất này. Cho nên, việc đáng làm đã làm là lời khen ngợi của Sư Ông, nhưng chúng ta có niềm tin vững chắc rằng: với lòng yêu thương rộng lớn của Thầy, Thầy sẽ trở lại với chúng ta. Lòng yêu thương yêu rộng lớn được thể hiện qua bài thơ rất cảm động “TUYÊN NGÔN” mà Thầy đã làm ở Làng Mai để tặng các sư em:
“Là lữ khách không nhà,
Ta giang hồ phiêu bạt
Tình cờ ta gặp em
Các em trai, em gái Việt Nam của tôi ơi
Các em là núi xanh, là giòng sông,
Là nắng mai, là hoa sớm
Các em vui tươi và hồn nhiên,
Nhẹ nhàng như mây trắng trôi trong khoảng trời
xanh biếc
Với nắng mới tinh khôi,
Nếu vô tình vụng dại
Bay lạc vào vùng đèo cao núi thẩm
Thì chỉ cần làn gió nhẹ
Của hiểu biết thương yêu
Là có thể đưa các em trở về
Với trời cao biển rộng mênh mông
Các em không cần phong ba bảo tố
Của giận hờn, phiền hận
Xin đừng la rầy trách mắng các em tôi
Vì sợ rằng màu xám của buồn đau
Sẽ phủ vây những mảnh hồ trong suốt tinh anh”
Tình của Thầy rất mênh mông, rất lớn đối với các sư em, sư anh, sư chị, với thiền sinh Việt và Tây phương.Thế nên chúng ta có niềm tin rằng cho dù Thầy thể nhập được vùng trời tâm bất động, Thầy vẫn phải khởi lòng thương “lưu hoặc nhuận sanh”.Thầy sẽ lại làm lữ khách phiêu bồng, làm lại hạt bụi lao xao đến cõi tinh cầu này. Đến rồi lại đi, đi rồi lại đến. Và mỗi lần đến đi là gieo rắc hạt mầm yêu thương và trao thông địệp từ bi trí tuệ từ của Đức Bổn Sư Từ Phụ cho con người, để tự thân con người có thể vượt thoát được thân phận đau thương, đọa đày trong cuộc lữ
Đó là hạnh ngộ của bao người tu Phật. Chắc hẳn là dù hình hài Thầy có tan thành tro bụi, nhưng Thầy vẫn còn ở lại đây với chúng ta bằng tình thương nồng ấm mênh mông.
|