Tu Viện Lộc Uyển
Kính chào quý vị,
Chúng ta đã về, chúng ta đã tới.
Kính xin quý vị
cùng thở sâu và nhẹ.
 

Trà Sư

 

Pháp Dụng

Ai biết thầy Giác Thanh, thường nhớ đến nụ cười thật đặc biệt của thầy. Thầy cười hồn nhiên như một bé thơ. Cầm chiếc chén trà hột mít trên tay, thầy nhấp một ngụm, rồi cười, rồi kể ta nghe những mẫu chuyện đạo.

Xóm Thượng, Làng Mai là một cái đồi, có thế đất của một con chim lớn đang bay về phương nam. Con chim có hai cánh, Cánh Bình Minh là sườn đồi phương đông và Cánh Hoàng Hôn là sườn đồi phương tây. Trên cánh Bình Minh ngày hôm nay, ta vẫn còn có thể thăm cốc Phù Vân.

Cốc Phù Vân là một ngôi trà thất. Cốc chủ là một trà sư. Trà sư đã sống ở đó, uống trà và nuôi dưỡng các sư em mình bằng tấm lòng tha thiết với con đường tu tập. Chính Sư Ông Làng Mai đã tặng cho thầy Giác Thanh mỹ hiệu trà sư này.

Thầy nói: "Trà sư là ông thầy uống trà chớ đâu có gì đặc biệt đâu." Từ cốc Phù Vân, bên bàn trà của thầy, tôi đã được ngồi ngắm một mảnh trăng thật đẹp. Hôm đó, thầy thật im lặng. Ngồi bên thầy, tôi thấy lòng mình nhẹ nhàng và hạnh phúc.

Thầy thương Sư Ông Làng Mai vô cùng. Thầy thường nhắc với tôi bằng một tấm lòng biết ơn rằng chính Sư Ông đã giúp cho thầy thấy rõ con đường tu tập. Thầy hiền lành, ít khi nào giận ai. Có buồn một chút, rồi thì thầy quên liền. Có lần thầy cầm cái gậy, chỉ vào tôi mà cười, quên mất chuyện không vui vừa xảy ra giữa chúng tôi trước đó chừng mười phút .

Tôi được tu tập bên thầy hơn mười năm. Thầy tự xưng mình là sư huynh. Thầy uống trà thật đạo vị. Thầy uống trà và chỉ nói với chúng tôi về một đề tài duy nhất: tu tập và giải thoát. Thầy là một sư huynh xuất sắc.

Cho đến ngày ra đi, thầy không sở hữu một món gì quí giá cả. Cái gì thầy có, rồi thầy cũng cho người khác ngay. Hình như món đồ thầy giữ lâu nhất, đâu chừng một, hai năm, cho đến ngày thầy thị tịch là một cái dĩa Mai Hạc, dùng để đựng những chén trà hột mít, có đề hai câu thơ của thi hào Nguyễn Du:

Nghêu ngao vui thú yên hà,
Mai là bạn cũ, hạc là người quen.
Thầy có được dĩa quí, vui lắm, khoe với tôi. Rồi thầy hỏi tôi có đọc được hai câu thơ trên dĩa không? Tôi nhận ra chiếc dĩa Mai Hạc, cho nên đọc hai câu thơ cho thầy nghe. Thầy ngạc nhiên, ngỡ rằng tôi biết đọc chữ Nôm. Không biết đó là cái ngạc nhiên của người sư huynh rộng lượng trước sự nghịch ngợm của em mình hay đó là sự hồn nhiên cố hữu của người thầy luôn luôn được chúng tôi thương quí?

Cho đến phút cuối cùng của cuộc đời, thầy tha thiết với sự tu tập. Tôi còn nhớ những ngày cuối của thầy, tại tu viện Lộc Uyển, tự tay thầy đã viết hai chữ vô sinh rồi treo trước cửa phòng.

Thầy bệnh nặng. Bác sĩ không cho thầy uống trà. Thầy chống gậy đi vòng quanh tu viện Lộc Uyển, gặp chúng tôi đang làm việc đâu đó thì thầy cười. Nhìn nụ cười của thầy, đâu ai biết là thầy chỉ còn sống một vài ngày nữa thôi.

Thầy không sợ bác sĩ. Thầy cứ tiếp tục uống trà, nhấp từng ngụm nhỏ. Trà sư không sợ trước cái chết của mình. Ở ngay trên giường bệnh, thầy vẫn mỉm cười với các sư em. Đó là nụ cười của một bé thơ. Hồn nhiên.

Làng Mai, ngày 22-8–2006


Trở Lại Trang Tưởng Niệm Thầy Giác Thanh